Trang

Hiển thị các bài đăng có nhãn * Từ Điển Phụng Vụ. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn * Từ Điển Phụng Vụ. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Bảy, 16 tháng 11, 2013

TỪ ĐIỂN PHỤNG VỤ - VẦN A




Tự Ðiển Phụng Vụ
Dictionaire de Liturgie
Phụng vụ đáng được xem là việc thực thi chức vụ tư tế của chính Ðức Giê-su Ki-tô, trong đó, công cuộc thánh hóa con người được biểu tượng nhờ những dấu chỉ khắc ghi và được thể hiện hữu hiệu cách khác nhau theo từng dấu chỉ, và trong đó việc phụng tự công cộng vẹn toàn cũng được thực thi nhờ Nhiệm Thể Chúa Ki-tô, nghĩa là gồm cả Ðầu cùng các chi thể của Người (PV 7).
Tự Ðiển Phụng Vụ
Nguyên tác bằng Pháp ngữ Dictionaire de Liturgie
Của tác giả Dom Robert Le Gall xuất bản năm 1982
được chuyển dịch ra Việt Ngữ vào Mùa Chay 1997
 


A-men
(= Amen)

Lời tung hô của người Do Thái nói lên sự ưng thuận. Bắt nguồn từ động từ âman, diễn tả tính chất của những gì có cơ sở vững chắc, những gì bền bỉ. Theo nghĩa ẩn dụ, động từ này vừa ám chỉ phẩm chất của một người trung tín, vừa nói lên hành vi qua đó người ta tín thác nơi một người khác.
Tiếng A-men đôi khi được lặp lại để kết thúc bốn trong năm tập thánh vịnh (Tv 40,14; 71,19; 88,53; 105,48).

TỪ ĐIỂN PHỤNG VỤ - VẦN B

Ba Lần Thánh
(= Trisagion)

Tiếng Hy Lạp trisagion có nghĩa là ba lần thánh. Trong phụng vụ Hy Lạp, từ này chỉ kinh Thánh, Thánh, Thánh. Ðây cũng là điệp khúc ba lần Hagios trong những lời Than vãn ngày thứ sáu Tuần Thánh (xc. Hagios o theos).

Thứ Sáu, 15 tháng 11, 2013

TỪ ĐIỂN PHỤNG VỤ - VẦN C

Ca Ðoàn
(= Chorale)

Trong phụng vụ giáo xứ, ca đoàn có nhiệm vụ làm chỗ dựa cho cộng đoàn hát theo và họ chỉ hát riêng những phần khó hơn. Việc điều phối những phần vụ của chủ tế, của cộng đoàn và của ca đoàn không phải là chuyện đơn giản: phải tránh đừng để những buổi cử hành phụng vụ trở thành dịp trình diễn nhạc đạo. Nhưng hiển nhiên là trong toàn bộ hòa điệu của phụng vụ, vì lợi ích tinh thần của cộng đoàn, một vài phần ca hát phải được dành cho những giọng ca điêu luyện.

TỪ ĐIỂN PHỤNG VỤ - VẦN CH

Chay Tịnh
(= Jeuen)

Tiếng La-tinh ieinium có nghĩa là tự nguyện tiết giảm ăn uống. Trong lịch sử nhân loại, khắp nơi đều thấy có việc thực hành chay tịnh tuyệt đối hay tương đối vì lý do tôn giáo hay vì các lý do khác. Qua việc chay tịnh, con người nhìn nhận mình lệ thuộc Thiên Chúa, vì lúc không sử dụng lương thực Thiên Chúa ban, con người cảm nghiệm được tính cách bấp bênh của sức lực mình: chay tịnh để tự hạ trước Thiên Chúa (xc. Tv 34,13; 68,11; Ðnl 8,3). Ăn chay là muốn bày tỏ cùng Thiên Chúa rằng: nếu không có Người, chúng ta không thể làm được gì; trong giây phút ta muốn cầu khấn Người một việc quan trọng (xc. Tl 20,26; 2Sm 12,16-22; Edr 8,21; Et 4,16), nhất là để nhìn nhận mình là tội nhân và qua việc nhìn nhận thực lòng tính cách hư vô của mình, con người khẩn cầu Chúa thứ tha (1V 21,27; Ðn 9,3). Chay tịnh thân xác chỉ có ý nghĩa khi đi đôi với một sự kiêng giữ hay xa tránh tội (xc. Is 58,1-12), nói khác đi, chay tịnh chỉ là hình thức bên ngoài (Mt 5,16-18).

TỪ ĐIỂN PHỤNG VỤ - VẦN D

Dây Các Phép
(= Etole)

Tiếng Latinh stola hay tiếng Hy Lạp stolè có nghĩa là áo ngoài. Dây các phép là một loại phẩm phục dành riêng cho những người đã lãnh nhận chức thánh. Ðó là một dải vải dài có hai vạt bằng nhau, màu sắc thay đổi tùy theo phụng vụ, cùng với các phẩm phục tế tự khác. Giám mục và linh mục quàng dây các phép lên cổ, thả song song hai vạt phía trước ngực; còn phó tế mang dây các phép từ vai trái chéo xuống bên phải: ở gần phía cuối, được may dính lại với nhau hay có một sợi dây nối hai vạt, để dây các phép quàng chéo một dải phía trước, một dải phía sau thân mình.
Ban đầu, dây các phép chỉ là một miếng vải dùng để lau miệng, lau mồ hôi hay nước mắt: một loại khăn tay mà người La tinh gọi là orarium, bởi chữ os có nghĩa là miệng. Người Hy Lạp gọi là ôrarion, còn người La tinh không hiểu vì lý do gì mà họ thích dùng chữ stola. Dây các phép được mang ngoài áo trắng dài.

TỪ ĐIỂN PHỤNG VỤ - VẦN Đ

Ðan Sĩ
(= Moine)
Tiếng Hy Lạp monochos có nghĩa là duy nhất, đơn độc. Các đan sĩ sống thành cộng đoàn trong các đan viện không phải là những người cô độc, đúng hơn, đây là những người hiến mình để tìm kiếm một sự duy nhất cần thiết. Theo sắc lệnh "Canh tân và thích nghi đời tu" của Công đồng Vaticanô II: "Nhiệm vụ chính yếu của các đan sĩ là phục vụ Thiên Chúa uy quyền trong nội vi đan viện, với sự khiêm tốn, nhưng cao quí, hoặc hoàn toàn hiến thân phụng thờ Thiên Chúa trọn đời sống ẩn dật, hoặc phụ trách cách hợp pháp một vài công việc tông đồ hay bác ái Kitô giáo" (s. 9). Theo quy định thánh Biển Ðức, nếu suốt cuộc đời đan sĩ nơi "Trường phục vụ Thiên Chúa" diễn ra trong vâng phục và khiêm tốn, thì việc phục vụ đó là công trình Thiên Chúa, Opus Dei, ở mức độ tuyệt hảo nhất, và phải được đặt lên trên tất cả (chương 43). Việc cử hành phụng vụ, xét trong toàn bộ, nhất là Các Giờ Kinh Phụng Vụ, không phải là đặc ân của các đan sĩ, nhưng đời sống cộng đoàn của họ, có trọng tâm là kinh Thần Vụ, sẽ làm cho kinh thần vụ của họ có tính chất gương mẫu.

TỪ ĐIỂN PHỤNG VỤ - VẦN G

Gậy Giám Mục
(= Crosse)

Ðây là cây gậy chỉ quyền chăn dắt của giám mục và viện phụ. Cây gậy này uốn cong lại phía đầu. Thời đầu, gậy của những người chăn chiên uốn cong lại phía đầu gậy, xẻ rãnh nhỏ để có thể hất tung đất đá tới những con cừu xa đàn. Gậy trở thành biểu tượng sự tỉnh thức của mục tử lo lắng canh giữ đàn chiên và dẫn chúng tới đồng cỏ màu mỡ. Từ đó người ta dễ dàng chuyển ý nghĩa chiếc gậy sang lãnh vực con người và lãnh vực thiêng liêng, nhất là như đã được sử dụng trong Thánh Kinh (xc. Tv 22,4; Ga 10; Lc 15,3-7) và được triển khai trong lối vẽ ảnh thánh.

TỪ ĐIỂN PHỤNG VỤ - VẦN H

Hai Lễ (Dâng)
(= Biner)

Ðây là việc cử hành thánh lễ hai lần hay nhiều lần trong một ngày vì những nhu cầu của các cộng đoàn khác nhau. Việc làm này hợp pháp nếu vì thiếu linh mục, mặc dù tự nó là việc không bình thường.

Thứ Năm, 14 tháng 11, 2013

TỪ ĐIỂN PHỤNG VỤ - VẦN K

Khai Tâm
(= Initiation)

Các bí tích khai tâm là ba bí tích mà những người dự tòng trưởng thành đón nhận trong một nghi lễ duy nhất, nhằm mục đích dẫn đưa họ vào đời sống Kitô giáo, bao gồm Thánh Tẩy, Thêm Sức và Thánh Thể. Các ấn tích được lãnh nhận trong bí tích Thánh Tẩy, Thêm Sức sẽ được thể hiện trọn vẹn nhất trong việc tham dự bí tích Thánh Thể. Người Kitô hữu được sinh ra trong phụng vụ phép rửa để cử hành phụng vụ cao cả nhất của tình yêu (đó là Thánh Thể). Ðêm Vọng Phục Sinh là thời điểm đặc biệt để cử hành các bí tích khai tâm (xc. Khai tâm các mầu nhiệm).

TỪ ĐIỂN PHỤNG VỤ - VẦN L

La Tinh (Ngôn Ngữ)
(= Latin)

Tiếng La Tinh là một ngôn ngữ được sử dụng tại Latium (một phần đất thuộc miền Trung nước Ý). Phụng vụ của Hội Thánh Rôma đã sử dụng tiếng Hy Lạp trong hai thế kỷ đầu của kỷ nguyên Kitô giáo. tại Rôma, người ta đã chuyển từ tiếng Hy Lạp sang tiếng La tinh vào hậu bán thế kỷ thứ III. Phi châu tiến hành công việc đó sớm hơn một chút. Mặc dù tại Tây Phương, tiếng La tinh vẫn là thứ ngôn ngữ viết được sử dụng rộng rãi cho đến thời cận đại, nhưng tại xứ Gallia (Pháp) thì vào cuối thế kỷ thứ VI, người ta không còn nói tiếng La tinh nữa.
Cho dù việc sử dụng tiếng bản xứ trong các cuộc cử hành phụng vụ đã lan rộng và hợp pháp, nhưng tiếng La tinh vẫn còn là một ngôn ngữ riêng của phụng vụ Rôma và cần được bảo tồn (xc. Ngôn ngữ). Ðặc biệt, phải cố dự liệu để cho các tín hữu có thể cùng đọc hoặc cùng hát bằng tiếng La tinh các phần thường dành cho họ trong thánh lễ (Hiến chế Phụng vụ thánh, số 54). Vì thế, nhạc Ghê-gô-ri-ô, loại nhạc riêng của phụng vụ Rôma, sử dụng tiếng La tinh (xc. Ghê-gô-ri-ô).

Thứ Tư, 13 tháng 11, 2013

TỪ ĐIỂN PHỤNG VỤ - VẦN M

 Ma-Ri-A
(= Marie)

Do hoàn toàn chấp nhận công trình của Thiên Chúa nơi mình và nơi Người Con, Ðức Maria là khuôn mẫu trọn hảo về việc chúng ta tham dự vào phụng vụ. Người đã bước vào vinh quang kể từ khi được đưa lên trời và các cử hành của chúng ta nối kết chúng ta với Người, vì phụng vụ ở dưới đất đã tham dự vào phụng vụ trên trời (xc. Phụng vụ).
Trong một năm phụng vụ, có các lễ kính Ðức Mẹ như sau:
- 08/12 : Ðức Maria Vô Nhiễm Nguyên Tội, lễ trọng.
- 01/01 : Ðức Maria Thánh Mẫu Thiên Chúa, lễ trọng.
- 11/02 : Ðức Mẹ Lộ Ðức, lễ nhớ tự do.
- 25/03 : Ðức Mẹ được Truyền Tin, lễ trọng.
- 31/05 : Ðức Mẹ thăm viếng, lễ kính.
- Thứ Bảy, tuần thứ ba sau lễ Hiện Xuống : Trái Tim Vẹn Sạch Ðức Mẹ, lễ nhớ tự do.
- 16/07 : Ðức Mẹ núi Carmelo, lễ nhớ tự do.
- 05/08 : Cung Hiến Vương Cung Thánh Ðường Ðức Bà Cả ở Rôma, lễ nhớ tự do.
- 15/08 : Ðức Mẹ Hồn Xác Lên Trời, lễ trọng.
- 22/08 : Ðức Trinh Nữ Maria Nữ Vương, lễ nhớ.
- 08/09 : Sinh Nhật Ðức Mẹ, lễ kính.
- 15/09 : Ðức Mẹ Sầu Bi, lễ nhớ.
- 07/10 : Ðức Mẹ Mân Côi, lễ nhớ.
- 21/11 : Ðức Mẹ Dâng Mình Trong Ðền Thờ, lễ nhớ.
Theo truyền thống, ngày thứ Bảy được dâng kính Ðức Mẹ; khi ngày này không phải là lễ trọng, lễ kính hoặc lễ nhớ bắt buộc thì có thể cử hành lễ nhớ về Ðức Mẹ (xc. Tôn kính).

TỪ ĐIỂN PHỤNG VỤ - VẦN N

Nào Vui Lên
(= Gaudete)

Ðó là từ La tinh đầu tiên trong bài ca nhập lễ của Chúa Nhật III Mùa Vọng. Chúa Nhật này được coi như một bước tạm dừng giữa Mùa Vọng và như một sự tham dự trước hạn vào niềm vui của lễ Giáng Sinh. Ðể làm nổi bật ý nghĩa của ngày đó, người ta có thể dùng lễ phục màu hồng, chơi đàn đại phong cầm, và có thể trang hoàng bông hoa trong thánh đường. Chúa Nhật IV Mùa Chay cũng mang ý nghĩa trên.

TỪ ĐIỂN PHỤNG VỤ - VẦN NG

Ngai
(= Cathèdre / Trône)

Gốc tiếng Hy Lạp kathèdra: tòa, ghế. Trong ngôn ngữ phụng vụ, từ này chỉ ngai của giám mục, tức là chiếc ghế giám mục ngồi để chủ tọa một cuộc cử hành phụng vụ. Trong các nhà thờ cổ, ngai được đặt ở giữa tòa nhà, phía trong cùng của hậu cung nhà thờ.
Ngai đức giám mục là biểu tượng quyền giáo huấn. Thông thường, chính từ ngai của mình mà đức giám mục ngỏ lời với dân chúng. Ðức Kitô cũng như các kinh sư Do Thái, có thói quen ngồi giảng dạy (xc. Mt 55,12; 13,1.2). Chẳng phải là trong tư thế "ngồi bên hữu Chúa Cha" mà Ðức Giêsu chủ tọa phụng vụ vĩnh cửu diễn ra trước nhan Người dó sao? (Tv 109,1; Mt 26,64; Cv 2,34; 7,55-56; Kh 4,3tt; 5,6tt; 22,1).

Thứ Ba, 12 tháng 11, 2013

TỪ ĐIỂN PHỤNG VỤ - VẦN NH

Nhà Tạm
(= Tabernacle)

Trong tiếng La tinh, tabernaculum nghĩa là lều. Chúng ta biết rằng sau khi ký kết giao ước Sinai, Lều Hội Ngộ hay Trướng Tao Phùng (kiểu nói thường thấy trong sách Xuất Hành, Lêvi và Dân Số) là nơi linh thánh mà Giavê và Dân Người gặp nhau qua trung gian là ông Môsê. Trong Tân Ước, Lều đích thực, không do tay người phàm làm ra (xc. Dt 9,11.24), là nhân tính mà Con Thiên Chúa đã mặc lấy; bản văn Ga 1,14 bằng tiếng Hy lạp đã chẳng viết: "Và Ngôi Lời đã làm người, và cắm lều ở giữa chúng ta" đó sao?
Trong các nhà thờ, nhà tạm là một cái hộp được trang trí, hoặc những tủ nhỏ có khóa, dùng để lưu giữ Mình Thánh Chúa. Ðó là nơi "cắm lều" của Chúa Kitô Thánh Thể giữa chúng ta; khăn phủ nhà tạm hay áo nhà tạm cũng làm nổi bật ý nghĩa của cái lều.

TỪ ĐIỂN PHỤNG VỤ - VẦN O

Ô-Mê-Ga
(= Oméga)

Tiếng Hy Lạp Ômêga. Ðây là mẫu tự thứ 24 và cũng là mẫu tự cuối cùng trong bản mẫu tự Hy Lạp. Chữ Ô này là Ô âm dài và mở, phân biệt với ô nhỏ (omicron), mẫu tự thứ 15 trong bản mẫu tự. Về ý nghĩa của chữ này trong phụng vụ, xem Alpha.

TỪ ĐIỂN PHỤNG VỤ - VẦN P

Pháp Thuật
(= Magie)

Trong tiếng Hy Lạp magueia có nghĩa là tôn giáo của các thầy phù thủy. Pháp thuật là một hình thức tế tự đã biến chất. Sở dĩ ta nói được như vậy là vì pháp thuật đã không đón nhận từ Thiên Chúa hồng ân Giao Ước, lại còn ra sức để tranh thủ, để đoạt các ân huệ hay các đặc quyền của Người. Pháp thuật tự hào là mình tạo ra được các ân thiêng, bằng cách thiết lập tương quan sống động và thân thiết với Thiên Chúa. Các nghi thức phụng vụ phải thường xuyên được nuôi dưỡng trong đức tin hầu khỏi bị lây nhiễm óc bùa chú hoặc thuần túy có tính cách máy móc.

Thứ Hai, 11 tháng 11, 2013

TỪ ĐIỂN PHỤNG VỤ - VẦN Q

Quá Cố
(= Défunt)

De-functus là người đã rời khỏi nhiệm vụ, người đã chấm dứt và đã rút lui. Trong nhiều tôn giáo, người ta quan niệm người chết tuy đã rời khỏi vị trí trong cuộc sống này, nhưng họ cần có sự "trự giúp" của người sống, để đạt tới lãnh vực của thần linh một cách chắc chắn hơn.
Ngay khi lãnh nhận bí tích Thánh Tẩy, người tín hữu đã được kết hiệp với Mầu Nhiệm Vượt Qua của Ðức Kitô Tử Nạn và Phục Sinh, nên các tín hữu quá cố vẫn hiện diện trong phụng vụ tại thế. Ðể giúp cho người quá cố được mau tham dự vào phụng vụ thiên quốc, Hội Thánh không ngừng phó thác họ cho lòng nhân từ của Thiên Chúa, trong niềm hy vọng về cuộc phục sinh của hết mọi người, khơi mào cho phụng vụ vĩnh cửu. Người quá cố được nhắc đến trong kinh Tạ Ơn, trong lời nguyện cộng đồng của thánh lễ, giờ Kinh Sáng và Kinh Chiều.

TỪ ĐIỂN PHỤNG VỤ - VẦN R

Rôma (Ngai Tòa)
(= Rome)

(Về quyền của Giám Mục Rôma đối với vấn đề phụng vụ, xc. Ðức Thánh Cha). Trong lãnh vực phụng vụ, Ðức Thánh Cha có "Thánh Bộ các Bí Tích và Phụng Tự" trợ giúp. Cần để ý tên gọi chính xác này: ngày xưa người ta gọi là "Thánh Bộ các Nghi Lễ", ngày nay, tên gọi "Thánh Bộ các Bí Tích và Phụng Tự" phù hợp với định nghĩa về phụng vụ của Công Ðồng Vaticanô II (xc. Phụng vụ), trước tiên phải kể đến công trình của phụng vụ (các bí tích) rồi đến công trình đáp ứng của Hội Thánh (phụng tự). Ngoài quyền tối cao của giám mục Rôma và Thánh Bộ trợ giúp người trong vấn đề phụng vụ, các Hội Ðồng Giám Mục có quyền đưa ra những cách áp dụng thích nghi với lãnh thổ của mình, phù hợp với những quyết định hoặc những chỉ dẫn của Rôma.

TỪ ĐIỂN PHỤNG VỤ - VẦN S

Sách Lễ
(= Missel)

Tiếng La tinh missale chuyển dịch sang tiếng Việt là Sách lễ, tức là cuốn sách để cử hành hay tham dự thánh lễ. Sách lễ của chủ tế không có các bài đọc trong thánh lễ.
Có lẽ giáo dân chưa được khích lệ đủ để sử dụng sách lễ theo tinh thần canh tân phụng vụ của Công Ðồng Vaticanô II. Sách lễ gồm phần lớn là Kinh Thánh. Ngoài ra, Sách lễ còn có lời cầu nguyện và thánh ca của Hội Thánh, nên sách lễ là một thứ lương thực đặc biệt cho đời sống Kitô hữu.

TỪ ĐIỂN PHỤNG VỤ - VẦN T

TẠ ƠN
(= Eucharistic)

Từ Hy Lạp eucharistie có nghĩa là lòng tri ân. Từ này bao gồm tiếp đầu ngữ eu, diễn tả điều thiện, và danh từ charis nghĩa là ơn sủng. Trước hết, tạ ơn là lời cám ơn Thiên Chúa vì biết bao ân huệ của Người, nhất là trong các bữa ăn. Người Do Thái coi những lời chúc tụng này có một tầm quan trọng đặc biệt vì đó là những "lời hay ý đẹp" để đáp lại những "việc tốt lành" của Thiên Chúa. Như thế, đây là nơi gặp gỡ giữa hai chiều kích bổ túc nhau trong phụng vụ: công trình của Thiên Chúa được đáp ứng bằng công trình của cộng đoàn nhân loại; sáng kiến của Thiên Chúa được đáp lại bằng lời tạ ơn của con người.
Từ ngữ tạ ơn của Kitô giáo phát xuất từ lời chúc tụng của Chúa Giêsu trong Bữa Tiệc Ly: "Rồi Người cầm tấm bánh, dâng lời tạ ơn (eucharistèsas)" (Lc 22,19; 1Cr 11,24; xc. Mt 26,27; Mc 14,23). Trong khung cảnh bữa ăn Vượt Qua là bữa ăn hiến tế gắn liền với việc sát tế chiên và tưởng nhớ cuộc giải phóng khỏi Ai Cập, Chúa Kitô thực hiện trước việc dâng hiến trọn vẹn thân mình Người làm hy tế cứu độ, và thiết lập lễ tưởng niệm của Giáo Ước mới.