Ca Ðoàn
(= Chorale)
Trong phụng vụ giáo xứ, ca đoàn có nhiệm vụ làm
chỗ dựa cho cộng đoàn hát theo và họ chỉ hát riêng những phần khó hơn. Việc
điều phối những phần vụ của chủ tế, của cộng đoàn và của ca đoàn không phải là
chuyện đơn giản: phải tránh đừng để những buổi cử hành phụng vụ trở thành dịp
trình diễn nhạc đạo. Nhưng hiển nhiên là trong toàn bộ hòa điệu của phụng vụ,
vì lợi ích tinh thần của cộng đoàn, một vài phần ca hát phải được dành cho
những giọng ca điêu luyện.
Ca Tiến Cấp
(= Graduel)
Xuất phát từ tiếng La-tinh gradus nghĩa là cấp,
bậc. Thánh vịnh tiến cấp là những thánh vịnh dân Ít-ra-en hát trong khi bước
lên các bậc Ðền thờ, trong dịp hành hương về Giê-ru-sa-lem (Tv 119-133). Trong
phụng vụ Rô-ma, các thánh vịnh tiến cấp hay các thánh vịnh khác được hát giữa
bài thánh thư và bài Tin mừng. Người ta có thói quen hát thánh vịnh này ở giảng
đài, vị trí hơi cao, có nhiều bậc bước lên, trong khi cung nghinh Tin mừng.
Ca tiến cấp Ghê-gô-ri-ô là bài hát xen giữa bài
đọc đầu tiên và Tin mừng. Ðó là một bài xướng đáp: phần thứ nhất mọi người đều
hát và một câu do các ca viên hát. Ðể tôn trọng bản chất hát đối đáp trong
thánh lễ, có thể lặp lại phần thứ nhất sau câu do ca viên hát. Phần lớn các bản
văn trong sách hát Ghê-gô-ri-ô đều được trích từ tập thánh vịnh.
Vào ngày chúa nhật, ca tiến cấp được cất lên giữa
các bài đọc một và hai, trừ mùa Phục sinh người ta hát Ha-lê-lui-a ở đầu. Ngày
thường trong tuần và ngoài mùa Phục sinh, có thể hát ca tiến cấp hoặc
Ha-lê-lui-a giữa bài đọc đầu tiên và bài Tin mừng. Mùa chay chỉ được hát ca
tiến cấp. Vì ca tiến cấp là bài hát hoa mỹ nhất của nhạc Ghê-gô-ri-ô trong
thánh lễ, nên trở thành tên gọi chung cho một tập gồm những bài hát khi cử hành
thánh lễ: ca Nhập lễ, ca Tiến cấp, ca Tiếp liên, Ha-lê-lui-a, ca Tiến lễ, ca
Hiệp lễ, kinh Thương xót. Do đó, ca tiến cấp là sách hát Ghê-gô-ri-ô được sử
dụng trong thánh lễ. Theo như công đồng Va-ti-ca-nô II mong ước (PV 117), ca
tiến cấp phổ thông đã được xuất bản gồm những giai điệu đơn giản hơn dùng cho
những nhà thờ nhỏ, nơi không thuận tiện để hát những bài công phu.
Ca Tiếp Liên
(= Séquence)
Tiếng La-tinh sequentia nghĩa là tiếp theo, liên
tiếp. Ca tiếp liên là bài ca có nhịp điệu tiếp nối và kéo dài câu Ha-lê-lui-a.
(xc. Câu tung hô).
Ca Tiếp Liên Mùa Chay
(= Trait)
Tiếng La-tinh tractus, hay đầy đủ hơn là psalmus
tractus nghĩa là thánh vịnh hát một mạch. Trong phụng vụ Ki-tô giáo sơ khai, ca
tiếp liên khác ca tiến cấp ở chỗ chỉ có một người đơn ca chứ cộng đoàn không
hát. Hiện nay, loại ca tiếp liên này được hát vào ngày chúa nhật và các ngày lễ
trong mùa chay, giữa bài đọc hai và bài Tin mừng, thay thế cho Ha-lê-lui-a. Bản
văn ca tiếp liên này hầu như bao giờ cũng trích từ thánh vịnh, thậm chí lấy
nguyên cả một thánh vịnh (như Chúa nhật I mùa Chay và Chúa nhật Thương khó).
Ca Tụng
(= Louange)
Tiếng La-tinh, laus có nghĩa là ca tụng, vinh
quang, kính trọng. Tán tụng là một trong những chiều kích chính yếu của kinh
nguyện phụng vụ, đến nỗi sách thánh vịnh, tập sách diễn tả rõ rệt nhất hình
thức cầu nguyện này còn được gọi là Tohillim, tiếng Híp-ri nghĩa là ca tụng. Ca
tụng là vui thích vì vẻ đẹp và lòng nhân từ của Thiên Chúa, Ðấng đã nối kết
chúng ta vào cuộc sống của Người, trong khi chờ đợi Người dẫn đưa chúng ta vào
vinh quang của Người (xc. Vinh tụng ca).
Ca Viên
(=Choriste)
Ngay từ thế kỷ IV đã xuất hiện những ca đoàn thiếu
nhi góp tiếng trong trẻo vào giọng ca của các bậc đàn anh. Các em có nhiệm vụ
đọc sách, xướng ca hay xướng thánh vịnh, được qui tụ thành từng nhóm hát thánh
ca thánh vịnh cạnh nhà thờ chính tòa hay đan viện. Tại đây, các em được đào tạo
về âm nhạc, huấn luyện về nhân bản và tôn giáo.
Từ ngữ này thường được dùng để chỉ một cậu bé
trong ban thánh ca thi hành nhiều nhiệm vụ khác nhau để giúp vị chủ tế. Ngày
xưa gọi là cậu bé hát thánh ca.
Ca Viên Tu Viện
(= Schola)
Từ La-tinh schola phát xuất từ tiếng Hy-Lạp scholè
có nghĩa là niềm vui chuyên chú vào việc học. Về sau có nghĩa là trường lớp nơi
người ta theo học. Schola cantorum hoặc trường ca viên là một trường âm nhạc do
thánh Ghê-gô-ri-ô Cả thiết lập ở Rô-ma để dạy các thiếu niên hát trong phụng
vụ. Khi cử hành phụng vụ, các thiếu niên này đứng ở một vị trí đã chỉ định
trong nhà thờ. Ngày nay, ca viên tu viện chỉ một nhóm các ca xướng viên. Trong
các đan viện, các ca xướng viên đứng ở giữa cung nguyện để hát một vài phần
trong thánh lễ hoặc trong kinh thần vụ (xc. Ca xướng viên, Ca đoàn).
Ca Xướng Viên
(=Chantre)
Tiếng La-tinh cantor có nghĩa là ca sĩ, người có
giọng tốt, giữ nhiệm vụ xướng cung hoặc hát những bài ca phụng vụ. Các ca xướng
viên họp thành ca đoàn hay ca hội. Người đứng đầu nhóm gọi là ca trưởng, có
trách nhiệm lĩnh xướng những phần quan trọng và lo cho việc ca hát khi cử hành
phụng vụ được tốt đẹp.
Trừ những lúc họ hợp thành ca đoàn, tùy theo tầm
quan trọng của các cộng đoàn, chỗ của các ca xướng viên thường được bố trí giữa
các hàng ghế dành cho ca đoàn, để họ dễ thi hành phận vụ của mình. Trong các lễ
trọng, hai hoặc bốn ca xướng viên mặc trang phục riêng, tức là áo choàng, đứng
ở một vị trí đặc biệt. Lúc đó, sẽ có việc hát đối đáp giữa các ca xướng viên
với thành phần còn lại của ca đoàn.
Cải Táng
(= Translation)
Cải táng là chuyển cốt một vị thánh sang một nơi
khác. Thường ngày cải táng được giữ làm ngày lễ kính vị thánh đó. Chẳng hạn ở
Pháp, lễ thánh Biển Ðức, ngày 11 tháng 7, bắt nguồn từ cuộc lễ cải táng người
sang đan viện Fleury (Saint-Benoit-sur-Loire).
Canh Thức - Vọng Lễ
(= Vigile)
Tiếng La-tinh vigilia có nghĩa là buổi canh thức,
giờ canh thức. Ðối với người Do Thái, bữa ăn Vượt qua vào chiều ngày 14 tháng
Nisan không chỉ là kỷ niệm ngày được giải phóng khỏi Ai cập, nhưng còn là buổi
canh thức mong chờ Ðấng Cứu thế (xc. Phục sinh, Vượt qua). Tương tự như vậy,
canh thức lễ Vượt qua (xc. Nến Phục sinh), vào đêm thứ bảy Tuần Thánh rạng Chúa
nhật Phục sinh, là để cầu nguyện trong tâm tình chờ mong Ðức Ki-tô Phục sinh.
Ðỉnh cao của buổi canh thức này là việc cử hành lễ Tạ ơn, gặp gỡ Ðấng đã chiến
thắng sự chết. Mọi thánh lễ đều mang chiều kích này, tức là chờ mong Chúa quang
lâm, hoặc ngày Chúa Ki-tô trở lại vĩnh viễn.
Một vài lễ trọng cũng có thánh lễ vọng (canh
thức), cử hành vào buổi chiều hôm trước cùng với kinh Chiều I.
Canh Thức Cầu Cho Người Quá Cố
(= Veillée)
Phụng vụ cầu hồn quy định có một buổi cầu nguyện
bên cạnh người vừa được gọi về nhà Cha. Buổi canh thức này gồm việc đọc kinh
Lạy Cha, thánh vịnh, và Lời Chúa, trong bầu khí thanh bình lặng lẽ (xc. Người
quá cố).
Câu Chuyển Nghĩa
(= Trope)
Trong tiếng Hy Lạp, tropos có nghĩa là vòng xoay.
Câu chuyển nghĩa là một câu ngắn, xen kẽ, dùng để lấp đầy những chỗ có dấu ngân
dài (neuma) trong một số bài nhạc bình ca Ghê-gô-ri-ô. Kiểu khai triển này -
rất thịnh hành thời Trung cổ - do người ta không hiểu giá trị diễn cảm của
những âm ngân dài theo cung nhạc. Ðến thế kỷ VI, công cuộc canh tân phụng vụ
của đức Thánh Cha Pi-ô V đã loại bỏ kiểu câu chuyển nghĩa này, chỉ còn lại dưới
hình thức một số câu tung hô hay ca tiếp liên. Một số kinh Thương xót vẫn còn được
gọi là những câu chuyển nghĩa cổ (xc. Câu tung hô; Bình ca, Ghê-gô-ri- ô).
Câu Tung Hô
(= Prose)
Trong tiếng La-tinh prosus hay prorsus có nghĩa là
hướng về phía trước (pro: phía trước; versus: quay). Prosa oratio là một bài
diễn từ đều đều, là lối phối hợp các từ ngữ một cách đơn giản. Trong số các bản
văn phụng vụ, Câu Tung hô hoặc Ca Tiếp liên là một bài sáng tác theo thể thơ tự
do, nhằm giúp kéo dài các dấu neuma trong bài Ha-lê-lui-a. Âm cuối bài
Ha-lê-lui-a được ngân dài giúp cho thầy phó tế có đủ thời gian tiến lên giảng
đài. Vì các đan sĩ Pháp không quen điệu hát Jubilus có âm vực rộng này, nên các
ông hát nuốt chữ. Ðó là nguồn gốc của kiểu sắp xếp từ ngữ prosa theo sau
(sequentia) bài Ha-lê-lui-a. Chính vì thế, nếu trước đó đã hát bài Ha-lê-lui-a,
thì mới hát tiếp một trong bốn Ca Tiếp liên của sách lễ Rô-ma: Ca Tiếp liên
tuần Phục sinh, lễ Ngũ tuần, lễ Mình Máu Thánh Chúa và lễ Ðức Mẹ Bảy sự. Các
câu tung hô hoặc Ca Tiếp liên khác đôi khi được hát lúc chầu Thánh Thể hay
trong những buổi cử hành á phụng vụ, như việc lần chuỗi, tôn kính trong tháng
Ðức Mẹ (xc. Á phụng vụ). Sách nghi thức La-tinh, trừ sách nghi thức
Ghê-gô-ri-ô, vẫn đặc biệt duy trì các câu tung hô của đan sĩ Notker thuộc đan
viện Saint Gall (thế kỷ IX-X) và Adam St
Victor (thế kỷ XII).
Câu Xướng Ðáp
(= Verset)
Tiếng La-tinh versus có nghĩa là luống, hàng chữ,
câu thơ. Ðể sắp xếp các bản văn, Kinh thánh không những được chia thành quyển,
chương, nhưng còn thành câu, tức là những phần nhỏ gồm một hay vài hàng. Trong
các bài thơ, chẳng hạn như thánh vịnh hay thánh ca dùng trong Phụng vụ, câu
thường gồm một hay hai câu thơ. Trong khi đọc hay hát thánh vịnh kiểu đối đáp,
mỗi bên hát một câu xen kẽ nhau. Việc hát đáp ca, Ca tiến cấp và Ha-lê-lui-a
gồm có phần chung dành cho cộng đoàn, sau đó là câu do một người hay một nhóm
xướng lên. Cuối thánh vịnh kinh Sách hay kinh Trưa, ca xướng viên sẽ đọc câu
xướng, tức là một câu ngắn, thường rút ra từ thánh vịnh, rồi cả cộng đoàn đáp
lại, như một hình thức tung hô nối tiếp vào câu xướng.
Cầu Mùa
(= Rogations)
Tiếng La-tinh rogatio có nghĩa là cầu xin, khẩn cầu,
cầu nguyện. Các lễ cầu mùa xuất hiện từ thế kỷ thứ V. Trong những thời kỳ đói
kém, thánh Mamert, giám mục Vienne, đã ấn định một hình th
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét