Nào Vui Lên
(= Gaudete)
Ðó là từ La tinh đầu tiên trong bài ca nhập lễ của
Chúa Nhật III Mùa Vọng. Chúa Nhật này được coi như một bước tạm dừng giữa Mùa
Vọng và như một sự tham dự trước hạn vào niềm vui của lễ Giáng Sinh. Ðể làm nổi
bật ý nghĩa của ngày đó, người ta có thể dùng lễ phục màu hồng, chơi đàn đại
phong cầm, và có thể trang hoàng bông hoa trong thánh đường. Chúa Nhật IV Mùa
Chay cũng mang ý nghĩa trên.
Năm Phụng Vụ
(= Année liturgique)
Là chu kỳ các cử hành phụng vụ hằng năm của Hội
Thánh. Phân chia thành các mùa phụng vụ và phần phụng vụ chư thánh. Phần phụng
vụ chư thánh bao gồm tất cả lễ các thánh có ghi trong lịch của Hội Thánh toàn
cầu, không qui định các lễ riêng của các Hội Thánh địa phương. Nhưng các thánh
chỉ phụ thuộc vào công trình trung tâm phụng vụ, tức là diễn tiến trải dài suốt
năm của mầu nhiệm cứu độ do Chúa Kitô thực hiện. Phần phụng vụ theo mùa gồm hai
chu kỳ Giáng Sinh và Phục Sinh, xen giữa hai chu kỳ này là 34 tuần của mùa
Thường Niên.
Chu kỳ Giáng Sinh gồm thời gian chuẩn bị gọi là
mùa Vọng; lễ Giáng Sinh và liền sau đó là mùa Giáng Sinh; lễ Hiển Linh và
"thời gian" của lễ này kéo dài đến lễ Chúa Chịu Phép Rửa. Lễ Chúa
Chịu Phép Rửa luôn được cử hành vào Chúa Nhật và kết thúc chu kỳ Giáng Sinh; kể
từ thứ hai liền sau đó, bắt đầu tuần thứ 1 mùa Thường Niên, mùa này tạm gián
đoạn từ thứ Tư lễ Tro để bước vào chu kỳ Phục Sinh.
Chúa Nhật liền sau lễ Hiện Xuống là lễ Chúa Ba
Ngôi, lễ trọng; thứ Năm hay Chúa Nhật sau lễ Ba ngôi, Hội Thánh cử hành lễ
trọng kính Mình Máu Thánh Chúa Kitô. Lễ Thánh Tâm Chúa Giêsu được ấn định vào
thứ Sáu tiếp sau Chúa Nhật thứ II, kể từ lễ Ngũ Tuần. Sau cùng, Chúa Nhật 34
mùa Thường Niên và cũng là Chúa Nhật cuối cùng của năm phụng vụ dành để cử hành
lễ Chúa Kitô Vua, lễ trọng.
Nâng Lên
(= Elécation)
Cử chỉ của linh mục khi nâng Bánh và Chén thánh
sau khi đọc lời truyền phép: đây chỉ là việc nâng Mình và Máu Thánh lên cho
giáo hữu thờ lạy. Cử chỉ khi đọc Per Ipsum cũng được nâng lên. Thực vậy, khi đó
linh mục nâng một lần cả đĩa và chén thánh, trong một cử chỉ hiến dâng của lễ,
và đọc lời kết thúc lễ Tạ Ơn.
Theo ý nghĩa phụng vụ, cử chỉ nâng lên khi đọc Per
Ipsum thì tầm quan trọng hơn cử chỉ nâng lên sau khi Truyền Phép.
Nến (Sáp)
(= Cierge)
Tiếng
La tinh cira có nghĩa là sáp. Careus hoặc trong tiếng La tinh bình dân cergium
là một ngọn lửa đốt từ một cái bấc được nhúng nhiều lần vào sáp, hoặc trong một
chất liệu nào khác có thể đốt cháy được. Ban đầu, các cây nến được sử dụng để
soi sáng cho những công việc trần tục, hoặc những hành vi trong nghi thức. Về
sau, người ta vẫn giữ lại các ngọn nến ngay cả khi không cần đến ánh sáng -
chẳng hạn khi cử hành các nghi lễ vào ban ngày - nhằm mục đích biểu tượng: gợi
lại Ánh Sáng là chính Ngôi Lời Nhập Thể (xc. Ga 1,4-9; 8,12; 9,5). Trong thời
kỳ người ta ưa thích các bữa ăn tối có đốt nến, vì ánh sáng của các ngọn nến
mang lại một bầu khí thân mật ấm áp, thì thật là đáng tiếc nếu các cuộc cử hành
phụng vụ không sử dụng tới tính cách biểu tượng của ngọn nến.
Bên
cạnh bàn thờ, hay ngay trên bàn thờ, người ta đặt từ hai đến sáu ngọn nến có
chân. Người cầm nến cao là những người mang nến sáng, đi đầu trong các cuộc
rước và khi đọc bài Tin Mừng. Khi cung hiến nhà thờ, người ta đốt một ngọn nến
trước mỗi lần trong 12 lần ghi dấu thánh giá để thánh hiến, sau khi xức dầu
thánh. Trong các giờ kinh thần vụ, trong ngày giáp năm cung hiến, nhà thờ đó
đốt lại 12 ngọn nến cháy sáng.
Sau các nghi thức Thánh Tẩy, người mới lãnh bí
tích nhận một cây nến lấy lửa từ nến Phục Sinh; vị chủ tế nói với người đó:
"Hãy nhận lấy ánh sáng của Chúa Kitô". Ðược trở nên "con của ánh
sáng", họ phải bước đi trong ánh sáng và phải cầm đèn cháy sáng đón Chúa
Kitô trở lại. Khi thanh tẩy một trẻ nhỏ, vị chủ tế tuyên bố với người cha,
người đỡ đầu hoặc với một trong các phần tử của gia đình cầm một cây nến đến
châm lửa từ nến Phục Sinh: "Ánh sáng này được trao phó cho quí vị, là cha
mẹ, những người đỡ đầu, hãy cố gắng giữ lấy nó..." Như vậy, đối với các
người chịu Thánh Tẩy, nến là biểu tượng cho chính sự sống của họ trong Ðức Kitô
Phục Sinh.
Nến (Chân)
(= Chandelier)
Giá đỡ dùng để cắm các cây nến. Người ta dùng hai
chân nến, mỗi chân có sáu ngọn để trên bàn thờ hoặc xung quanh bàn thờ; khi để
xung quanh, các chân nến phải cao ít là một mét. Trong ngày giáp năm cung hiến,
người ta đặt các chân nến trước các thập giá thánh hiến nhà thờ.
Trong giờ Kinh Ðêm và Kinh Sáng, vào các ngày thứ
Sáu và thứ Bảy Tuần Thánh, có thể dùng một chân nến lớn hình tam giác mang ba
ngọn nến. Sau mỗi thánh vịnh lại tắt một ngọn: cuối giờ Kinh Sáng, chỉ còn lại
một ngọn nến cháy. Ðây là biểu tượng việc Ðức Kitô trở nên trần trụi, sự
"hóa ra không" của Người; ngọn nến cuối cùng là dấu chỉ niềm hy vọng
ở tận đáy sâu sự hạ mình mà người Tôi Tớ đau khổ cảm nhận được.
Chân nến phục sinh được dùng để cắm nến Phục Sinh,
biểu tượng cho Ðức Kitô Phục Sinh; chân nến phục sinh thường có dáng cao, được
trang trí và đặt trong cung thánh từ đêm Vọng Phục Sinh cho đến chiều lễ Ngũ
Tuần.
Nến (Lễ)
(= Chandeleur)
Ðây là tên gọi bình dân của ngày lễ 2 tháng 2: lễ
Dâng Chúa vào Ðền Thờ. Trong lễ này, người ta làm phép nến - từ đó có tên gọi
lễ Nến - để gợi lại lời cụ già Ximêon đã nói trong bài Nunc Dimittis:
"Muôn lạy Chúa
giờ đây theo lời Ngài đã hứa,
Xin để tôi tớ này
Ðược an bình ra đi
Vì chính mắt con được thấy ơn cứu độ
Chúa đã dành sẵn cho muôn dân
Ðó là ánh sáng soi đường cho dân ngoại,
là
vinh quang của Israel dân Ngài (Lc 2,29-32).
Sau
khi làm phép là cuộc rước dưới ánh sáng những cây nến, dẫn đưa cộng đoàn đến
nhà thờ hoặc kêu gọi cộng đoàn trở lại nhà thờ: cuộc rước này tượng trưng cho
cuộc gặp gỡ của các "con cái ánh sáng" (Lc 16,8) với Chúa là
"Ánh sáng muôn dân".
Các
tín hữu có thói quen mang về nhà những cây nến đã được làm phép. Theo phong
tục, người ta sẽ đốt những cây nến đó bên cạnh những người chết để tỏ dấu hy
vọng ánh sáng vĩnh cửu.
Nến Cao (Người Cầm)
(= Cénoféraire)
Gốc tiếng Hy Lạp keros: sáp và động từ Phéréin:
mang. Thường là hai thầy giúp lễ mang nến cao, họ dẫn đầu đoàn rước, có thầy
mang bình hương đi trước hoặc đi sau, tượng trưng cho ánh sáng Ðức Kitô mang
đến và được lan tỏa nhờ các cuộc lễ. Các người giúp lễ cũng mang nến cao theo
thầy phó tế hoặc linh mục khi đọc Tin Mừng. Tin Mừng là ánh sáng cho lòng trí.
Nến Phục Sinh
(= Cierge pascale)
Nghi thức về nến phục sinh, khai mạc cho đêm canh
thức Vượt Qua trọng thể, là do biến chuyển từ nghi thức Do Thái. Nghi thức này
gồm phần chính yếu là việc đốt các ngọn đèn vào lúc đêm xuống, khởi đầu ngày
sabát; nghi thức này đã trở thành Kinh Lên Ðèn trong Kitô giáo: người ta thực
hiện nghi thức này vào giờ Kinh Chiều, khi hát bài Phôs Ilaron ("Hỡi ánh
sáng ngàn đời rực rỡ"), một bài thánh thi được tôn trọng trong những thế
kỷ đầu.
Khởi đầu đêm thánh nhất trong mọi đêm, đêm canh
thức dài nhất của năm phụng vụ, Hội thánh đã cử hành nghi thức "lên
đèn": gốc tích nến Phục Sinh và là ca tụng, tức bài công bố Tin Mừng Phục
Sinh, đã có ít là từ thế kỷ thứ IV.
Sau khi làm phép lửa mới, vị chủ sự vẽ dọc theo
cây nến những biểu tượng như sau: một hình thánh giá, chữ Alpha và Ômêga (xc.
Alpha), sau cùng là bốn con số của năm, vừa đọc những công thức có ghi sẵn
trong sách lễ. Chủ sự cắm năm hạt hương cháy đỏ vào cây nến, làm nổi bật hình
thánh giá đã vẽ, biểu tượng cho năm dấu thương tích vinh quang của Chúa Kitô
trong cuộc khổ nạn. Người ta lấy lửa mới châm vào nến Phục Sinh và thầy phó tế
cầm nến dẫn đầu đoàn rước tiến vào trong thánh đường còn tối; thầy sẽ dừng lại
ba lần để tung hô: "Ánh sáng Chúa Kitô". Sau khi xin vị chủ sự ban
phép lành - giống như khi đọc Tin Mừng - và xông hương nến Phục Sinh, thầy phó
tế sẽ hát bài công bố Tin Mừng Phục Sinh, đây là một bài thi ca cổ xưa tóm tắt
niềm vui Phục Sinh.
Nước
(= Eau)
Nước là một yếu tố gần gũi và cần thiết đối với
đời sống con người; nước luôn luôn có nhiều ý nghĩa biểu tượng. Theo các học
thuyết cổ xưa nhất về sự khai sáng vũ trụ, thì nước là yếu tố phát sinh vũ trụ,
nước không thể phục vụ đời sống nếu không được Hơi Thở (Thần Khí) của Thiên
Chúa ban sinh lực (St 1,2). Tự nó, nước sẽ đưa mọi vật đến cái chết và chìm vào
trong sự hỗn mang nguyên sơ (hồng thủy và biển). Là một biểu tượng lưỡng diện,
nước vừa nói lên sự chết lẫn sự sống, vừa thanh tẩy lẫn thánh hóa.
Trong các lễ nghi tôn giáo, nhiều nghi thức tẩy
rửa và rảy nước trước hết mang một ý nghĩ tiêu cực, tức là giải thoát khỏi
những lỗi lầm hoặc những nhơ uế làm cho ta không được thanh sạch để cử hành
phụng vụ (xc. Ed 36,25): nước trong các nghi lễ là để tẩy trừ khỏi nhơ uế. Là
nguyên lý sự sống, nước cũng là biểu tượng sự sinh sản hay tái sinh. Như vậy,
nước mang lại sự sống (Ed 47,1-12; xc. Kh 22,1-2).
Các nghi thức phụng vụ chỉ sinh hiệu quả nếu chúng
chuyển tải được tác động của chính Thiên Chúa. Phép Rửa bằng nước chỉ đóng vai
trò chuẩn bị đối với phép rửa bằng Nước và Thánh Thần (xc. Ga 3,5; 1,33). Một
khi đã được chất chứa nguồn sinh lực của Thánh Thần (St 1,2), nước gắn liền với
Thánh Thần và trở thành biểu tượng đặc biệt của Thánh Thần. Nước chính thức
được thánh hóa khi Ðức Giêsu chịu phép rửa trong sông Giođan, như vậy, nước trở
thành "nước trường sinh", là "Ân huệ của Thiên Chúa", tức
là Thánh Thần (Ga 4,10). Chỉ có Thánh Thần Ðấng ở trung tâm sự sống của Ba Ngôi
Thiên Chúa (Ga 4,14), mới có thể làm trào vọt lên đến sự sống đời đời.
"Những dòng nước hằng sống" sẽ chỉ tuôn trào vào lúc Ðức Kitô được
"tôn vinh" trên Thập Giá (7,37-39): chính vào giờ của Người, sau khi
đã trao phó Thánh Thần, Ðức Giêsu mới làm tuôn trào nước và máu từ trái tim bị
đâm thủng của Người, đó là những biểu tượng sống động của các bí tích được
quyền năng Chúa Thánh Thần tác động (19,34; xc. Ga 5,6-8).
Ðược dìm vào trong sự chết và sự sống của Ðức Kitô
nhờ bí tích Thánh Tẩy, con cái Thiên Chúa lãnh nhận những bảo chứng của Thánh
Thần làm cho họ được no thỏa (1Cr 12,13) trong khi chờ đợi đến ngày được dìm
vào trong dòng nước trường sinh là chính Thiên Chúa (Kh 22,1).
Ðể có một cái nhìn cô đọng về ý nghĩa biểu tượng
nước, ta có thể suy niệm về các công thức làm phép nước rửa tội, nước thánh
(đêm canh thức Phục Sinh) trong sách lễ Rôma. Ta có thể ghi nhận rằng nước xét
nguyên nó, không phải là bí tích: phép Thánh Tẩy hệ tại việc "dìm vào
trong nước kèm theo lời đọc" (Ep 5,26).
Nước thánh là một phụ tích: trong bí tích Thánh
Tẩy, người ta rảy hoặc đổ nước; khi được rảy nước thánh trong đêm canh thức
vọng Phục Sinh, sau phần lập lại lời hứa rửa tội, hay trong thánh lễ Chúa Nhật,
các tín hữu nhớ bí tích Thánh Tẩy mình đã lãnh nhận. Cũng vậy, khi sử dụng nước
thánh, các tín hữu làm sống lại nơi mình những hiệu quả của bí tích Thánh Tẩy,
cho tương xứng với đức tin của mình.
Việc rảy nước thánh trên thi hài của một tín hữu
còn là một sự nhắc nhở bí tích Thánh Tẩy người đó đã lãnh nhận. Linh mục sử
dụng nước thánh trong nhiều nghi thức làm phép: nước thánh thanh tẩy và mang
lại sức sống cho những vật được làm phép. Trong Thánh Lễ, việc linh mục pha
nước vào rượu khi chuẩn bị lễ vật, phù hợp với phong tục rót rượu của người Do
Thái xưa trong những bữa tiệc mà chính trong khung cảnh này, Ðức Giêsu đã thiết
lập bí tích Thánh Thể. Hành vi này có nhiều ý nghĩa biểu tượng: nhắc nhở việc
kết hiệp giữa hai bản tính Thiên Chúa và nhân loại trong Ngôi Lời Nhập Thể;
nhắc nhở nước và máu chảy ra từ cạnh sườn Chúa Kitô khi Người chịu chết trên
thập giá; sau cùng, việc đó diễn tả việc các tín hữu liên kết với hy lễ và sự
sống của Ðức Kitô, Ðấng cứu độ.
Nước Thánh (Bình)
(= Bénitier)
Là bình đựng nước đã làm phép. Có loại cố định,
gắn ở cửa nhà thờ để tín hữu dùng, cũng có loại khác nhỏ hơn và xách tay được:
loại này có quai xách và một cây rảy nước, dùng trong các nghi thức rảy nước
thánh do phụng vụ qui định.
Nước Thánh (Cây Rảy)
(= Goupillon)
Cây rảy nước thánh là một cán nhỏ bằng kim loại,
một đầu phình ra giống như một cái cầu nhỏ, rỗng và có đục nhiều lỗ, dùng để
rảy nước thánh. Loại cây rảy này đi cùng một bộ với bình nước thánh xách tay,
và được cắm trong bình.
Nước Thánh (Rảy)
Trong tiếng La tinh aspersio gốc bởi động từ
adspagere: đổ tràn trên, chảy về phía; như vậy, từ này có nghĩa là việc đổ một
chất lỏng hoặc rắc tro bụi trên một người hay một vật. Trong phụng vụ, từ này
thường chỉ việc rảy nước trên một người hay trên vật để thanh tẩy.
Việc rảy nước chủ yếu trong phép Thánh Tẩy: chủ sự
dội nước ba lần trên đầu người được rửa tội; đó là cách thức rửa tội thông
thường, còn gọi là "đổ nước", mặc dù việc rửa tội bằng cách dìm xuống
vốn cổ xưa và mang nhiều ý nghĩa hơn. Cử chỉ này vừa hàm ý thụ nhân đã được tẩy
rửa, vừa mang ý nghĩa tiếp nhận một nguyên lý sống, nguồn sống của Thiên Chúa.
Bất kỳ việc rảy nước nào cũng mang hai công hiệu: tích cực và tiêu cực.
Trong đêm Vọng Phục Sinh, sau khi cộng đoàn tuyên
xưng lại lời hứa Thánh Tẩy, chủ tế long trọng rảy nước thánh trên cộng đoàn,
"để nhớ lại Phép Rửa". Nghi thức này cũng được cử hành vào mỗi Chúa
Nhật, lúc bắt đầu thánh lễ.
Khi chấm nước thánh để làm dấu Thánh Giá, người
tín hữu cầu xin Chúa giải thoát mình khỏi sự dữ và đổ đầy ân sủng của Người
xuống. Các nghi thức rảy nước trong việc cử hành các phụ tích cũng mang cùng
một ý nghĩa đó: nghi thức này nhằm tẩy sạch tình trạng lây nhiễm sự dữ ra khỏi
vật được rảy nước thánh, đồng thời làm cho những vật ấy trở nên thích hợp với
công việc thánh.
Ðôi khi việc rảy nước đi kèm với việc xông hương: sau
khi được thanh tẩy và thấm nhuần ân sủng, các vật ấy có thể được tôn kính như
là có liên hệ với Thiên Chúa. Trong các đan viện, nghi thức rảy nước thánh cuối
giờ Kinh Tối vừa là một cử chỉ thanh tẩy sau một ngày làm việc, vừa có ý diễn
tả sự chở che, gìn giữ lúc đêm về (xc. Tẩy rửa; Ðổ nước; Phép Rửa vắn tắt).
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét