Ngai
(= Cathèdre / Trône)
Gốc tiếng Hy Lạp kathèdra: tòa, ghế. Trong ngôn
ngữ phụng vụ, từ này chỉ ngai của giám mục, tức là chiếc ghế giám mục ngồi để
chủ tọa một cuộc cử hành phụng vụ. Trong các nhà thờ cổ, ngai được đặt ở giữa
tòa nhà, phía trong cùng của hậu cung nhà thờ.
Ngai đức giám mục là biểu tượng quyền giáo huấn.
Thông thường, chính từ ngai của mình mà đức giám mục ngỏ lời với dân chúng. Ðức
Kitô cũng như các kinh sư Do Thái, có thói quen ngồi giảng dạy (xc. Mt 55,12;
13,1.2). Chẳng phải là trong tư thế "ngồi bên hữu Chúa Cha" mà Ðức
Giêsu chủ tọa phụng vụ vĩnh cửu diễn ra trước nhan Người dó sao? (Tv 109,1; Mt
26,64; Cv 2,34; 7,55-56; Kh 4,3tt; 5,6tt; 22,1).
Ngai chính thức của đức giám mục được đặt trong
nhà thờ chính tòa, nhưng mỗi nhà thờ trong địa phận đều thường xuyên dành sẵn
một ngai cho giám mục, điều này nhắc ta nhớ rằng không thể có một cuộc cử hành
phụng vụ nào, không có một lời giáo huấn nào mà không hiệp thông với vị giám
mục, mà linh mục là các cộng sự viên của người: "Chỉ được coi là chính
đáng bí tích Thánh Thể nào được cử hành dưới sự chủ tọa của đức giám mục hay
của vị được người ủy thác trách nhiệm. Ở đâu có giám mục, ở đấy có cộng đoàn,
cũng như ở đâu có Chúa Giêsu Kitô, ở đấy có Hội Thánh Công Giáo" (thánh
Inhaxiô thành Antiôkia, thư gửi người Miếc-na 8,1-2).
Ngày Trong Tuần
(= Férie)
Tiếng La tinh feriae có nghĩa là những ngày dành
để nghỉ ngơi và mừng lễ. Trong ngôn ngữ phụng vụ của Hội Thánh, người ta gọi
feriae là ngày trong tuần: Chúa Nhật là ngày thứ nhất, thứ Hai là ngày thứ hai,
và cứ như vậy cho tới ngày thứ Sáu; thứ Bảy gọi là ngày sabát". Cách gọi
tên như thế hàm ý mỗi ngày phụng vụ đều là ngày lễ: như vậy, phải chăng chúng
lại không là khung cho chu kỳ thường nhật đó sao?
Mặt khác, người ta còn gọi ngày trong tuần là ngày
không có lễ trọng, lễ kính hay lễ nhớ buộc.
Nghệ Thuật
(= Art)
Tiếng La tinh ars có nghĩa là sự khéo léo, tài
nghệ, sự thành thạo. Nguyên thủy, nghệ thuật là một tài khéo thuộc phạm vi thực
hành; đó là đặc điểm của người thợ giỏi, làm việc có phương pháp và chính xác
nhằm đạt được một tác phẩm hoàn mỹ. Sự mô tả này phù hợp với người thợ thủ
công, còn người nghệ sĩ nhắm đến sự hoàn thiện, hay một vẻ thẩm mỹ trong lãnh
vực mỹ thuật: kiến trúc, hội họa, chạm trổ, điêu khắc, âm nhạc. Với cả hai ý
nghĩa trên, nghệ thuật chiếm một vị trí trong phụng vụ, là hành động dâng lên
Thiên Chúa phần tinh hoa nhất của con người và tài năng của họ. Phần cuối của
Phụng Vụ là hai chương bàn về thánh nhạc và nghệ thuật thánh (chương 6-7). Hơn
bất cứ một công việc nào khác, công trình của Thiên Chúa đòi hỏi những ai có
khả năng hoàn thiện phải làm hết sức mình.
Nghi Lễ
(= Cérémonie)
Tiếng La tinh caeremonia hay caerimonia có nghĩa
là nghi thức thánh, sự biểu lộ có tính cách thờ phượng. Từ ngữ này bắt nguồn từ
tiếng Phạn Kar (làm) với tiếp vĩ ngữ môn: có nghĩa là một việc đã hoàn thành
tức là một việc linh thánh. Ðàng khác, về mặt từ nguyên, các tác giả La tinh
còn cho biết xưa có thành Caere thuộc xứ Etrurie, là nơi người Rôma cất giữ các
vật thánh thuộc các đền thờ của họ, khi thành Rôma thất thủ vào tay người
Gaulois. Người ta còn cho rằng thành ngữ cereris munia như là nguyên gốc, có
nghĩa là những vật dâng cúng cho nữ thần Cérès (thần nông nghiệp), vì những bó
lúa được dâng cúng cho vị thần này chính là những vật dâng cúng theo một nghi
lễ rất long trọng.
Trong ngôn ngữ phụng vụ thông thường, từ ngữ nghi
lễ biểu thị một cử hành có tính cách trang trọng đặc biệt. Những từ ngữ cử
hành, nghi lễ nhấn mạnh đến khía cạnh bên ngoài của các chức năng trong việc
phượng tự, nổi bật tính cách trang trọng oai nghiêm. Nếu chỉ chú ý hoặc quá đề
cao khía cạnh này tức là không hiểu đúng bản chất đích thực của phụng vụ, ngược
lại, khi thi hành việc linh thánh mà loại bỏ khía cạnh tôn nghiêm và trang
trọng tức là làm biến dạng những tác động đưa con người vào hiệp thông với
Thiên Chúa, và khiến những tác động đó trở thành tầm thường, trái ngược với
những gì là linh thánh.
Nghi Lễ (Sách)
(= Cérémonial)
Sách chỉ dẫn hay sách ghi các tập tục qui định các
nghi thức phụng vụ. Chữ đỏ trong sách lễ và các sách nghi thức khác chỉ dẫn
cách thức cử hành chung cho toàn thể Hội Thánh, nên dĩ nhiên các qui luật ấy
rất tổng quát. Bởi vậy, các hội đồng giám mục hay các tu hội và các cộng đoàn
địa phương đối với cộng đoàn riêng của mình, cần phải xác định những qui định
thực hành cần thiết, để các cuộc cử hành được có trật tự và xứng đáng. Sách
nghi thức có thể được viết thành bản văn, hoặc được truyền tụng và được ghi nhớ
qua chính việc cử hành các nghi lễ phụng vụ.
Nghi Thức
(= Rit / Rite)
Tiếng Phạn Riti có nghĩa là cử điệu, sự sắp xếp,
cách sử dụng. Từ ngữ đó phát xuất bởi động từ ri, có nghĩa là đi. Tiếng Việt
gọi là nghi thức. Theo quan niệm thông thường, nghi thức là một hành vi có tính
cách văn hóa, hơn kém đã được cố định, cũng là một hành vi có tính cách tôn
giáo, hơn kém đã thành thói quen. ban đầu, từ ngữ này có nghĩa là "những
thói quen đã được chấp nhận để duy trì trật tự thế giới" (xc. Tôn giáo).
Nghi thức không phải là một hành vi máy móc, nhưng là một hành vi nhân linh có
tính cách cộng đoàn, mang dấu ấn thần linh, vì thế gọi là "chấp nhận"
để diễn tả tác động của thần linh. Trong hầu hết các tôn giáo, việc thực hành
một nghi thức chính là hành động như Thiên Chúa và với Thiên Chúa. Vì được sống
trong nghi thức trước khi được thể hiện thành suy tư trong huyền thoại (xc.
Huyền thoại) đời sống tôn giáo thiết yếu là sự tháp nhập của cộng đồng nhân
loại vào trong tác động của thần linh. Như vậy, chiều kích thần linh của phụng
tự phải được xếp hàng đầu. Trong phụng vụ, toàn thể vũ trụ được liên kết trong
cùng một hành động - ít là một cách tượng trưng - và qui hướng về tác động của
thần linh. Thiên Chúa tự trao ban và con người trong mọi chiều kích - cá nhân,
cộng đoàn, ngoại giới, nội tại, vũ trụ - tự hiến cho Thiên Chúa và ký thác mình
cho hành động cứu độ của Thiên Chúa.
Trong Kitô giáo, các nghi thức cốt yếu (như Hy Lễ
Tạ Ơn, các Bí Tích) chính là những hành động của Thiên Chúa mà Hội Thánh được
sát nhập vào. Vượt lên trên các nghi thức cốt yếu đó, toàn bộ phụng vụ là một
hành vi chung của Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Linh, cũng như của Hội Thánh
là dân của Giao Ước (xc. Phụng Vụ, Hy Lễ, Cộng Tác). Người ta cũng gọi nghi
thức là toàn bộ những nét đặc trưng của riêng một nền phụng vụ nào đó, chẳng
hạn nghi thức bizantin, nghi thức cope hay nghi thức malabar (xc. Phung vụ).
Nghi Thức (Sách)
(= Rituel)
Tiếng La tinh rituales libri có nghĩa là sách nghi
thức. Sách nghi thức là một cuốn sách phụng vụ ghi chép các nghi thức cử hành
phụng vụ. Từ Công Ðồng Vaticanô II, phần lớn các bí tích và các phụ tích quan
trọng đều đã có sách nghi thức canh tân. Sách nghi thức Rôma, tuyển tập hầu hết
các nghi thức mà linh mục cần dùng khi cử hành phụng vụ, cũng đã được xuất bản.
Sách Nghi Thức Giám Mục cũng đã có những nghi thức mới.
Nghi Thức Thánh Lễ (Sách)
(= Ordo missae)
Từ ngữ La tinh có nghĩa là trật tự thánh lễ. Sách
Nghi Thức Thánh Lễ chỉ dẫn cách thức dâng lễ được công bố bằng một tài liệu
chính của Tòa Thánh. Sách này xác định cách thức thích hợp để đem lại cho mỗi
nghi thức một vị trí đích thực. Sách nghi thức thánh lễ hiện hành trong Hội
Thánh La tinh được Ðức Giáo Hoàng Phaolô VI công bố tháng Tư năm 1969. Lịch sử
thánh lễ cho thấy có nhiều sách nghi thức thánh lễ qua các thời đại; hiện nay,
nếu kể cả những cách thức cử hành thánh lễ, chẳng hạn trong các nghi lễ Ðông
Phương, thì những sách ấy còn nhiều nữa (xc. Phụng vụ; Thánh lễ; Phần thường
lễ; Ðức Thánh Cha).
Nghĩa Trang
(= Cimetière)
Tiếng Hy Lạp koimeterion là nơi người ta ngủ, do
động từ koiman ở dạng trung gian và thể thụ động, có nghĩa là nghỉ ngơi, ngủ.
Nghĩa trang là nơi người quá cố an nghỉ. Nghi thức an táng tại nghĩa trang có
các lời nguyện riêng.
Ngồi
(= Assis)
Ngồi và đứng là những tư thế chính của người tín
hữu trong khi cử hành phụng vụ. Ngồi là tư thế để lắng nghe, tiếp thu và chiêm
niệm, tư thế mà cô Maria, em cô Mátta và ông Ladarô, đã ưa thích, để lãnh nhận
trọn vẹn giáo huấn của Chúa Giêsu: "Cô Mátta có người em tên là Maria, cô
này ngồi dưới chân Chúa để nghe Lời Người" (Lc 10,39).
Trong thánh lễ, người ta ngồi để nghe các bài đọc,
để hát thánh vịnh hay một bài hát suy niệm xen giữa các bài đọc; khi đọc Tin
Mừng thì cộng đoàn đứng; còn khi nghe giảng cũng như khi chuẩn bị lễ phẩm thì
ngồi. Sau phần hiệp lễ, người ta có thói quen ngồi giây lát trong tình thân mật
thầm lặng với Ðấng mà ta vừa đón nhận.
Những nguyên tắc này cũng được áp dụng cho các
cuộc cử hành khác.
Ngôn Ngữ
(= Langue)
Tiếng La tinh lingua có nghĩa là lời nói, ngôn
ngữ, tiếng địa phương, tiếng bản quốc. Ðây là những chỉ dẫn của Công Ðồng
Vaticanô II liên quan đến việc sử dụng ngôn ngữ trong phụng vụ.
1. Việc dùng tiếng La tinh, trừ luật riêng, phải
được duy trì trong các nghi lễ la tinh.
2. Tuy nhiên, có thể sinh lợi rất nhiều cho dân
chúng nếu dùng tiếng bản quốc hoặc trong thánh lễ, hoặc trong việc cử hành các
bí tích, hay trong những phần khác của phụng vụ, cho nên tiếng bản quốc dễ được
chấp thuận, được sử dụng nhiều hơn, nhất là trong các bài đọc và các bài giáo
huấn, một số lời nguyện và bài hát (PV số 36) (xc. La tinh).
Các bản dịch đã được hội đồng giám mục quyết định
và thực hiện phải được Rôma phê chuẩn.
Ngũ Tuần (Lễ)
(= Pentecôte)
Tiếng Hy Lạp pentecoste (hêmêra) nghĩa là ngày thứ
50.trong Cựu Ước, lễ Mùa Gặt (Xh 23,16; 34,22) hoặc lễ các Tuần (Lv 23,15-22)
là lễ tiến dâng những sản phẩm đầu tiên của mùa gặt, cử hành vào tuần thứ bảy
sau lễ Vượt Qua. Do đó, gọi là ngày thứ 50 sau lễ hội Mùa Xuân (xc. Tb 2,1).
Con số 50, con số kết thúc tuần lễ cao điểm trong bảy tuần, gợi lên sự sung mãn
hay sự tốt lành, tương tự như trong thể chế năm toàn xá của Israel . Cứ bảy
tuần năm thì có một năm Toàn Xá (năm thứ 50) (xc. Xh 21,2; 23,10tt; Lv 15,3tt),
con số đó cũng gợi lên sự đổi mới hoàn toàn. Dân Israel ra khỏi Ai Cập - cuộc Vượt
Qua - chỉ là để hướng về Giao Ước Xinai. Và vì thế, lễ ngũ tuần đã trở thành lễ
kỷ niệm của "Ngày Ðại Hội" (Ðnl 9,10; 10,4; 18,16), diễn ra khoảng 50
ngày sau khi ra khỏi Ai Cập (xc. Xh 19,1): "Tháng thứ ba"). Dù đã
được sinh ra trong cuộc Vượt Qua, Dân - Hiền Thê chỉ đạt tới ý nghĩa trọn vẹn
của mình và sự giải phóng hoàn toàn khi kết hiệp với Chúa Chúa, trong Giao Ước.
Trong Tân Ước, Ðức Giêsu thanh tẩy và cứu chuộc
Hội Thánh của Người nhờ hiến tế trên núi Canvê; ở đó, Người đã trao ban trọn
vẹn Thánh Thần của Người cho Hội Thánh (Ga 19,30); vào ngày Phục Sinh, Ðức
Giêsu thông ban Thánh Thần cho các Tông Ðồ, để các ông tiếp nối sứ vụ của chính
Người (Ga 20,22-23). Nhưng chỉ 50 ngày sau cái chết của Ðức Giêsu - Ngày lễ Ngũ
Tuần (Cv 2) - Thánh Thần mới đến canh tân toàn thể Hội Thánh khi tẩy rửa Hội
Thánh trong "Dòng sông có nước trường sinh" (Kh 22,1) là chính Người.
Mầu nhiệm vượt qua chỉ đạt được chiều kích trọn vẹn trong sự viên mãn của lễ
Ngũ Tuần, là ngày Hội Thánh nhận được những hoa trái đầu tiên làm bảo chứng do
phần gia nghiệp (Ep 1,13-14) là thực thi chức năng tư tế của mình khi ca tụng
"những kỳ công của Thiên Chúa" (Cv 2,11), nhờ ơn Thánh Thần tác động.
Lễ Ngũ Tuần là lễ trọng, kết thúc mùa Phục Sinh,
chiều hôm đó người ta tắt nến phục sinh. Trước đây còn có Tuần Bát Nhật của Lễ
Ngũ Tuần, nhưng nay được bãi bỏ để ngày thứ 50 đóng trọn vai trò hoàn tất của
mình. Thay vào đó thời gian 10 ngày giữa lễ thăng thiên và lễ Ngũ Tuần được cử
hành như một sự chuẩn bị long trọng để đón Chúa Thánh Thần đến, trong chuyên
chăm cầu nguyện với Ðức Maria, Thân Mẫu Chúa Giêsu (Cv 1,14). (xc. Chúa Thánh
Thần).
Nguyện Ðường
(= Chapelle)
Tiếng La tinh capella có nghĩa là áo choàng nhỏ.
Nguyên thủy, từ này chỉ nơi lưu giữ áo choàng của thánh Martin. Sau đó được
dùng để chỉ bất kỳ ngôi nhà nào dành cho việc phượng tự: các nguyện đường đứng
độc lập như một thánh đường nhỏ, hay là một công trình phụ thuộc của một ngôi
thánh đường trong kiến trúc tổng thể, bởi đó người ta cũng dùng từ này để gọi
các nơi đặt bàn thờ ở hậu đường, hay nhà chầu Thánh Thể.
Trong nghi lễ đại trào, từ này chỉ đoàn giúp lễ, nghĩa
là những người hầu cận gần nhất quanh vị chủ tế: phó tế hoặc thầy giúp lễ,
chưởng nghi, những người cầm gậy, mũ, sách.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét