Trang

Hiển thị các bài đăng có nhãn * Tâm Tình Với Mẹ Maria. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn * Tâm Tình Với Mẹ Maria. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Sáu, 29 tháng 12, 2017

LỄ MẸ THIÊN CHÚA – NĂM MỚI 2018

XÂY DỰNG HOÀ THUẬN TỪ GIA ĐÌNH 
RA HOÀ BÌNH THẾ GIỚI

Tại sao Hội Thánh chọn ngày 1.1 đầu năm mới là ngày lễ mừng kính lễ Mẹ Thiên Chúa và cầu nguyện cho nền hòa bình thế giới, mà không phải là ngày lễ Chúa Ba Ngôi mới phải chứ vì chưng Thiên Chúa Ba Ngôi mới là Chúa vũ trụ, Chúa thời gian? Thưa, sau Công Đồng Vaticanô II, Đức Phaolô VI đã ấn định vào ngày 1.1, vì lý do sau: Đức cố Giáo hoàng Gioan 23 đã lấy ngày lễ kính Đức Mẹ Thiên Chúa 11-10-1962 để khai mạc Công Đồng Vaticanô II, và đã thành công rực rỡ như một lễ Hiện Xuống mới; như một cuộc sáng tạo mới. Sau đó, Đức Giáo Hoàng Phaolô VI đã đặt Lễ Mẹ Thiên Chúa vào ngày 1 tháng 1, Ngài nói: “Ta biết trong nhiều thế kỷ, ngày 1 tháng Giêng từng là ngày lễ Chúa Giêsu chịu cắt bì, như Phúc Âm Thánh Luca tường thuật”(Lc 2,21). Nhưng ta nên đồng tâm hướng về ngày lễ trọng vừa được tái lập mừng kính Mẹ Thiên Chúa vào ngày đầu của tháng Giêng trong lịch phụng vụ của thành Rôma. Mục đích việc cử hành này là để tôn kính vai trò của Đức Maria trong mầu nhiệm cứu chuộc và đồng thời ca khen địa vị có một không hai của Mẹ Thánh… qua Ngài chúng ta nhận được ơn phúc Tác Giả sự sống. Lễ trọng này cũng cho ta cơ hội tuyệt vời để đổi mới lòng thờ kính cần phải bầy tỏ với Hoàng Tử Hòa Bình vừa mới sinh ra, khi một lần nữa, ta lại được nghe Tin Mừng hân hoan lớn lao và đầy cầu nguyện dâng lên Thiên Chúa, qua sự bầu cử của Nữ Vương Hoà Bình, để được ơn bình an vô giá. Vì những xem xét ấy và vì sự kiện tuần bát nhật Giáng Sinh trùng với một ngày đầy hy vọng, tức Ngày Đầu Năm, Ta đã chỉ định ngày này làm ngày Hòa Bình Thế Giới” (Phaolô VI, Marialis Cultus, tháng 2 năm 1974, số 5).

Thứ Bảy, 9 tháng 9, 2017

LỄ ĐỨC MẸ SẦU BI 15-9

Kết quả hình ảnh cho đức mẹ sầu bi


* LỊCH SỬ
Thánh lễ Đức Mẹ Sầu Bi hay còn gọi là lễ “Bảy sự Thương Khó Đức Bà”  được hình thành vào thời Trung Cổ. Năm 1667 dòng Serviten bắt đầu phổ biến thánh lễ này. Mãi đến năm 1814 Đức Thánh Cha Piô VII mới cho phép toàn thế giới mừng kính thánh lễ này. Lễ Đức Mẹ Sầu Bi được kính nhớ liền ngay sau lễ Suy Tôn Thánh Giá. Giáo Hội muốn nhắc nhở con cái mình khi suy tôn Thánh Giá Chúa Giêsu, không được quên một hình ảnh sống động đứng dưới chân Thánh Giá là Mẹ Maria.  Dĩ nhiên dưới chân Thánh Giá còn có những môn đệ khác, nhưng Mẹ là người hiệp thông sâu xa nhất với cuộc thương khó của Chúa Giêsu, Con Mẹ.  Nhưng tại sao lại gọi ngày lễ hôm nay là lễ Đức Mẹ Sầu Bi. Hiểu thế nào là sự “sầu bi” nơi Đức Mẹ?

Thứ Bảy, 2 tháng 9, 2017

LỄ SINH NHẬT MẸ MARIA

Kết quả hình ảnh cho sinh nhat duc me
* LỊCH SỬ

Lễ kính sinh nhật Đức Mẹ vào ngày 8 tháng 9 có lẽ bắt nguồn từ Giêrusalem. Vào thế kỷ V, một ngôi nhà thờ được cất lên vào chỗ mà theo tục truyền bà Anna đã sinh con. Người ta đoán rằng ngôi nhà thờ này được cung hiến vào ngày 8 tháng 9. Một giả thuyết khác thì cho rằng bên Đông phương trước kia, ngày 8 tháng 9 trùng vào những ngày đầu năm dân sự, và người ta muốn nhớ đến Đức Mẹ trong ngày đó. Từ Đông phương, lễ sinh nhật Đức Mẹ được truyền bá sang Tây phương vào khoảng giữa thế kỷ VI hoặc đầu thế kỷ VII.

Suy niệm: HAPPY BIRTHDAY MẸ MARIA 


 Có thể nói, Mẹ Maria ra đời là tuyệt tác tình yêu mà Thiên Chúa đã ban cho con người. Không có Mẹ, chúng ta đâu cảm được vị ngọt của tình yêu như chuối ba hương, như xôi nếp mật, như đường mía lau. Không có Mẹ, con cái đâu lớn nỗi thành nhân và thành thánh vì không ai chăm sóc cho ta chu đáo, cặn kẽ, đầy tình nhân ái như là Mẹ Maria. Cho nên, chúng ta thấy khắp nơi trên thế giới Mẹ luôn hiện ra nhắc nhở, bảo ban, hướng dẫn và cầu bầu cùng Chúa ban muôn ơn cho con cái Mẹ kêu xin.

Chủ Nhật, 14 tháng 5, 2017

THÁNH LỄ THỨ BẢY TRONG THÁNG HOA ĐỨC MẸ

 NỮ VƯƠNG CÁC GIA ĐÌNH
Chủ đề : NGƯỜI BẢO GÌ CÁC CON HÃY LÀM THEO
Lời Chúa:  Ga 2, 1-5

          Hôm nay, chúng ta cùng nhau dâng thánh lễ để chúc tụng, ngợi khen, cảm tạ và tôn vinh Chúa đã ban cho chúng ta có một người Mẹ tuyệt vời là Mẹ Maria, Nữ Vương các gia đình. Nhưng tạo sao gọi Đức Mẹ Maria là Nữ Vương? Thưa, Đức Maria là Nữ Vương, bởi vì được kết hiệp một cách duy nhất với Con của Mẹ là Chúa Giêsu Kitô, trên cuộc sống trần gian cũng như trong vinh quang trên Trời. Vì chưng, Thánh giáo phụ Efrem đã khẳng định, chức Nữ vương của Đức Maria phát xuất từ chức làm Mẹ Thiên Chúa của Mẹ. Nhưng Vương quyền của Mẹ là gì? Nghĩa rằng vương quyền và chức vua của Chúa Kitô được làm thành bởi sự khiêm nhường, phục vụ và và yêu thương, thì vương quyền của Mẹ Maria cũng thế được làm thành bởi sự vâng lời trong khiêm nhường, phục vụ và yêu thương. Cụ thể, trên thập giá, Chúa Giêsu cho ta thấy Người là Vua bằng cách đau khổ, hy sinh và chết vì chúng ta và cho chúng ta. Hay trong Bữa Tiệc Ly, Chúa Giêsu cúi xuống rửa chân cho các môn đệ để lại mẫu gương phục vụ trong yêu thương cho chúng ta hôm nay. Như vậy vương quyền của Chúa Giêsu không giống vương quyền của các kẻ quyền thế ở thế gian. Người là một vì vua phục vụ các tôi tớ của mình. Đối với Mẹ Maria cũng thế: Mẹ là Nữ Vương trong việc phục vụ Thiên Chúa và nhân loại một cách chân tình. Mẹ là Nữ Vương của tình yêu, Mẹ sống ơn Chúa trao ban Mẹ bằng việc bước vào trong chương trình cứu độ con người của Thiên Chúa. Vì vậy, Mẹ là Nữ Vương của chúng ta qua việc Mẹ yêu thương chúng ta, trợ giúp chúng ta trong mọi nhu cầu, mọi hoàn cảnh qua mọi thời.

Thứ Hai, 26 tháng 9, 2016

CHÚA NHẬT XXVII – LỄ ĐỨC MẸ MÂN CÔI

KINH MÂN CÔI GIÚP TA SỐNG
LÒNG THƯƠNG XÓT CHÚA HẰNG NGÀY
Lời Chúa: Cv 1,12-14; Gl 4,4-7; Lc 1,26-38
Kết quả hình ảnh cho đức mẹ mân côi
Kính thưa quý ÔBACE,
Chuyện kể rằng chỉ ít phút sau khi đoàn tàu chuyển bánh về Paris, một ông cụ già rút trong túi áo ra Tràng hạt Mân Côi và bắt đầu đọc kinh lần hạt. Người sinh viên trẻ quan sát cử chỉ của cụ già với vẻ bực bội.  Sau một hồi lâu, xem chừng không thể chịu nổi, anh ta mạnh dạn lên tiếng: “Thưa Ông, thời đại này kỷ thuật số hiện đại rồi mà Ông vẫn còn tin vào những chuyện nhảm nhí thế à?” Cụ già thản nhiên trả lời: “Đúng vậy, dù thời đại có tân tiến mấy đi nữa, tôi vẫn tin và vẫn sống hằng ngày nhờ kinh nguyện bình dân này. Còn cậu, cậu không tin sao?” Chàng sinh viên vênh váo trả lời: “Lúc nhỏ tôi có tin, nhưng bây giờ làm sao tôi có thể tin vào những chuyện nhảm nhí ấy được, bởi vì khoa học đã mở mắt cho tôi. Ông cứ tin tôi đi và hãy học hỏi những khám phá mới của khoa học, rồi Ông sẽ thấy rằng những gì Ông tin từ trước đến nay đều là những chuyện nhảm nhí hết”. Cụ già nhỏ nhẹ hỏi anh sinh viên: “Cậu vừa nói về những khám phá mới của khoa học, liệu cậu có thể giúp tôi hiểu chúng được không?” Người sinh viên trả lời: “Ông cứ cho tôi địa chỉ, tôi sẽ gởi sách vở đến cho ông, rồi ông sẽ say mê đi vào thế giới phong phú của khoa học cho mà xem”. Cụ già từ từ rút trong túi ra một tấm danh thiếp và đưa cho anh sinh viên. Đọc qua tấm danh thiếp, người sinh viên bỗng xấu hổ đến tái mặt và lặng lẽ rời sang toa khác. Bởi vì trên tấm danh thiếp ấy có ghi: “Louis Pasteur, trưởng viện nghiên cứu khoa học Paris và là nhà bác học thiên tài”.

Thứ Năm, 11 tháng 8, 2016

LỄ ĐỨC MẸ HỒN XÁC LÊN TRỜI - NĂM THÁNH LÒNG THƯƠNG XÓT

PHẬN NỮ TỲ HÈN MỌN CHÚA HẰNG THƯƠNG XÓT
Tin Mừng hôm nay kể Đức Mẹ lên đường đi thăm người chị họ của mình là bà Elisabeth đồng đem lòng thương xót Chúa dành cho Mẹ đến nhân loại mà bà Elizabeth đại diện. Trên đường đi, Đức Mẹ rất vui mừng vì Mẹ cảm nhận được lòng thương xót vô biên của Thiên Chúa dành cho Mẹ. Khi vừa tới nhà chị họ, Đức Mẹ dự tính sẽ kể cho bà Elisabeth nghe điều mới xảy ra cho Mẹ là Sứ thần Gabrien truyền tin Mẹ sẽ cưu mang Ngôi Hai Thiên Chúa làm người, thì Bà Elisabeth đã biết hết điều Đức Maria định kể! Vì thế, bà Elisabeth nói: "Em được chúc phúc hơn mọi người phụ nữ, và người con em đang cưu mang cũng được chúc phúc. Bởi đâu tôi được Thân Mẫu Chúa tôi đến với tôi thế này? Vì này đây, tai tôi vừa nghe tiếng em chào, thì đứa con trong bụng đã nhảy lên vui sướng. Em thật có phúc, vì đã tin rằng Chúa sẽ thực hiện những gì Người đã nói với em." Bấy giờ Đức Mẹ cất tiếng ca ngợi Thiên Chúa mà chúng ta vừa mới nghe trong bài đáp ca và bài Tin Mừng: linh hồn tôi ngợi khen….

Thứ Năm, 24 tháng 3, 2016

LỄ TRUYỀN TIN

Lòng Thương Xót Chúa Làm Người
Nhờ Hai Tiếng “Xin Vâng” của Đức Maria
Lời Chúa: Is 7,10-14;8,10; Dt 10,4-10; Lc 1,26-38
Kết quả hình ảnh cho truyền tin
 Trong kinh Ca ngợi (Magnificat), Đức Maria nhắc tới lòng thương xót của Chúa ba lần: “Phận nữ tỳ hèn mọn, Người đoái thương nhìn tới” (Lc 1,48), “Đời nọ tới đời kia, Chúa hằng thương xót những ai kính sợ Người” (câu 50) và “Vì Người nhớ lại lòng thương xót dành cho tổ phụ Abraham” (câu 55). Qua lời vinh tụng của Đức Maria, chúng ta thấy lòng thương xót của Chúa thật lớn lao, vĩ đại trải qua bao ngàn thế hệ.

Thứ Bảy, 26 tháng 12, 2015

LỄ MẸ THIÊN CHÚA

MẸ MARIA, MẸ CỦA LÒNG THƯƠNG XÓT
Lời Chúa: Ds 6,22-27; Gl 4,4-7; Lc 2,16-21
Hôm qua thứ Ba, 15.12 Đức Thánh Cha Phanxicô đã ban hành sứ điệp Ngày Thế Giới Hòa Bình 2016, được cử hành hằng năm vào ngày 01 tháng Giêng. Chủ đề năm này là: “Vượt qua vô cảm và giành hòa bình.” Toàn bộ sứ điệp Đức Thánh Cha nhấn mạnh đến các hình thức khác nhau của việc vô cảm trong xã hội ngay nay. Trước hết là sự vô cảm với Thiên Chúa, do đó dẫn đến việc vô cảm với tha nhân và sau đó là với môi trường. Đức Thánh Cha  cũng đề cập đến những điều mà ngài gọi là “sự vô cảm trước lòng thương xót,” như đã thấy trong sách Sáng Thế kể về việc Cain giết chết em trai của mình là Abel. Ngược lại, Thiên Chúa lại quan tâm đến con người, “Ngài lắng nghe tiếng nói của dân Ngài, trông thấy họ, bước xuống, và ban tặng cho họ. Thiên Chúa không vô cảm. Ngài chu đáo và Ngài hành động”. Qủa vậy, Lời Chúa trong Lễ Đức Mẹ Maria, Mẹ Thiên Chúa hôm nay không ngừng nói với chúng ta về lòng thương xót của Chúa. Bào đọc 1 Sách Dân Số nói rằng bất cứ khi nào chúng ta kêu cầu danh Chúa, Chúa sẽ ban phúc lành và dủ lòng thương xót chúng ta. Rồi đến Bài đọc 2, Thánh Phaolô nói: “Khi thời gian tới hồi viên mãn, Thiên Chúa đã sai Con mình tới, sinh làm con một người đàn bà, và sống dưới Lề Luật, để chuộc những ai sống dưới Lề Luật, hầu chúng ta nhận được ơn làm nghĩa tử” (Gl 4,4-5). Và cuối cùng, đến trang Tin Mừng chúng ta thấy có Chúa Hài Nhi Giêsu trong máng cỏ, dung nhan Lòng Thương Xót Chúa hữu hình, bên cạnh Chúa Hài Nhi có Đức Maria và Thánh Giuse.

Thứ Tư, 12 tháng 8, 2015

LỄ ĐỨC MẸ HỒN XÁC LÊN TRỜI

Hình ảnh có liên quan

1. NGUỒN GỐC
Lễ Mẹ hồn xác lên trời là lễ cổ xưa nhất trong các ngày lễ kính Đức Mẹ được cử hành trong toàn thể Giáo hội Đông phương, Công giáo lẫn Chính Thống giáo. Đông Phương giữa các năm 540-570 người ta gọi lễ Mẹ hồn xác lên trời là lễ “sự qua đi” của Đức Maria hay lễ “Đức Maria ngủ”. Ít lâu sau đó, vào khoảng năm 600 hoàng đế Maurizio ra sắc lệnh mừng lễ Đức Maria hồn xác lên trời vào ngày 15 tháng 8 trong mọi vùng thuộc đế quốc Bisantin.
Lễ Đức Maria hồn xác lên trời được du nhập sang Rôma vào thế kỷ thứ VII cùng với các lễ khác kính Đức Maria như lễ Thanh Tẩy, lễ Truyền Tin và lễ Sinh Nhật Đức Mẹ, nhưng ngay lập tức nó trở thành lễ quan trọng nhất và ngay từ đầu đã có tên gọi và ý nghĩa như hiện nay: lễ Đức Mẹ hồn xác lên trời.
Thế rồi từ Rôma, lễ Đức Mẹ hồn xác lên trời lan sang toàn Tây Phương một cách nhanh chóng trong các thế kỷ thứ VIII và thứ IX. Ngày lễ đã được mặc cho tất cả sự trang trọng kể từ năm 1950 khi Đức Cố Giáo Hoàng Piô XII định tín việc Đức Mẹ được cất nhắc về trời cả hồn lẫn xác. Với tín điều này, Giáo hội chỉ công bố long trọng một chân lý vốn đã được các tín hữu Kitô tin từ ngàn xưa tôn kính. Chân lý đó là: “Thân xác của Người phụ nữ đã trao ban thể xác cho Con Thiên Chúa đã không phải chịu định luật của sự thối rữa”.
2. SUY NIỆM:       
“VỮNG TIN GIỐNG MẸ – VỀ TRỜI NHƯ MẸ”
Cả cuộc đời dương thế của chúng ta là một cuộc hành hương, một cuộc lữ hành, về nhà Chúa. Giờ đây, tất cả chúng ta là những lữ khách trần gian, có nghĩa rằng chúng ta còn đang đi, cuộc sống này chưa phải là nơi định cư vĩnh viễn. Ngày hôm nay, toàn thể Hội thánh tin và tuyên xưng rằng Mẹ Maria được Thiên Chúa cho lên trời cả hồn lẫn xác. Trong khi đó Mẹ Maria cũng là kẻ lữ hành như chúng ta khi còn ở trần thế và hành trình đức tin của Mẹ Maria cũng lắm gian truân và thậm chí còn đen tối chứ chẳng sáng sủa gì! Thế tại sao Mẹ Maria được đặc ân này? Tin Mừng hôm nay trả lời ngay rằng vì Mẹ đã tin vững vàng vào Thiên Chúa và công trình Người sẽ thực hiện nơi Mẹ và cuộc đời của Mẹ, “Em thật có phúc, vì đã tin rằng Chúa sẽ thực hiện những gì Ngài đã nói với em” (Lc 1,45).
Chúng ta tạm ngừng chiêm ngắm những đặc ân cao cả của Mẹ Maria để quay về với cuộc sống bình thường giản dị và đơn sơ của cô Maria tại làng Nazarét nghèo nàn. Chắc chắn, cô Maria cũng như bao cô gái khác trong làng đều có những ước mơ thật tốt đẹp và tươi sáng về cuộc đời mình khi đến tuổi vào đời. Đùng một cái, Thiên Chúa mời cô làm mẹ Con Một của Ngài trong khi cô không biết đến chuyện vợ chồng, liệu cô Maria có tin chuyện ấy có thể xảy ra không? Rồi tới giờ mãn nguyệt khai hoa mà chẳng một ai, một nhà nào cho cô Maria và thánh Giuse mướn một chỗ để sinh, lúc ấy cô Maria có tin mình sắp sinh Ngôi Hai Thiên Chúa không? Rồi nữa, khi thấy con mình đi từ làng này sang làng khác để rao giảng Tin Mừng, chữa lành nhiều bệnh nhân mà không biết mệt mỏi, có lúc quên ăn ăn ngủ, thậm chí quên giờ quên giấc đến nỗi người bà con nói với cô đi bắt con trai Giêsu bà về đi nó điên rồi (Mc 3,20-21), cô có còn tin đó là Con Thiên Chúa thật không? Chưa hết, khi lạc con ba ngày, vừa lo vừa sợ, vừa mệt vừa tủi trong lúc tìm con; khi tìm được rồi chưa kịp mừng thì người con nói một câu như gáo nước lạnh tạc vào mặt, thư hỏi cô có tin đó là Thiên Chúa thật không? Chưa nói, khi thấy con mình bị phỉ nhổ, khinh chê, đánh đập bầm thâm loạn bì và chết trên treo thập giá, liệu cô Maria có tin đó là điều đẹp ý Chúa không?
Qủa thật, Mẹ Maria không hề biết trước những chuyện như thế? Cũng không hề nghĩ rằng tất cả là chương trình Thiên Chúa xếp đặt cả rồi, thôi mình cứ cam lòng chịu đựng hết đi rồi sẽ được thưởng công xứng đáng như hôm nay. Ấy thế, Mẹ Maria vẫn tin mạnh mẽ, vững vàn và xin Thiên Chúa cứ thực hiện nơi cô những gì Ngài muốn. Đức tin của Mẹ là đức tin của sự chấp nhận dâng hiến xác hồn, phó thác cuộc đời mình cho Thiên Chúa. Cho nên, Mẹ thưa “xin vâng” để rồi thụ thai Chúa Giêsu trong lòng dạ mình bất chấp rằng chắc chắn mình sẽ bị chồng đưa ra pháp luập, bị ném đá chết tươi vì mới đính hôn mà đã có thai.
Là lữ khách trần gian, Mẹ Maria bước những đi của đức tin tuy nhẹ nhàng nhưng đầy niềm vui và phục vụ; bước những chân nặng nề, cay đắng, gian truân khốn khó nhưng đầy tín thác và hy vọng vì thế Mẹ đã đi tới nơi và trở thành người dẫn lối đưa đường cho chúng ta. Cho nên, Giáo Hội tin và dạy rằng: “Sau khi về trời, vai trò của Mẹ trong công trình cứu độ không chấm dứt, nhưng Mẹ vẫn luôn tiếp tục cầu bầu để đem lại cho chúng ta những ân huệ được phần rỗi đời đời. Với tình Mẹ hiền, Mẹ chăm sóc những anh em của Con Mẹ đang lữ hành trên dương thế và đang gặp biết bao nguy hiểm, thử thách cho đến khi họ đạt tới hạnh phúc Quê Trời” (LG, Số 62).
Cuộc đời dương thế và hành trình đức tin của Mẹ Maria thật lắm tối tăm, nhiều thử thách cam go đồng thời cũng không thiếu gian nan, đắng cay! Nhưng Mẹ Maria đã đến được bến bờ hạnh phúc bằng những hành động đức tin sống động và cụ thể chứ không phải là đức tin tưởng tượng trong trí óc hay trên môi miệng. Đức tin là điều kiện để được cứu độ (Mc 16,16) và đạt hạnh phúc thiên đàng (Mt 25,34), nhưng chúng ta phải làm cho đức tin ấy thật sống động và linh hoạt bằng những hành động cụ thể trong đời sống thường nhật, nhờ đó đức tin mới nên hoàn hảo. Cho nên, Thánh Giacôbê nói: “Đức tin không có hành dộng là đức tin chết” (Gc 2,26), vì chưng, “Đức tin là bảo đảm cho những điều ta hy vọng, là bằng chứng cho những điều ta không thấy” (Dt 11,1).

 Chúng ta phải noi gương Mẹ Maria sống đức tin chân thành và kiên trì bằng cách tuân giữ và thi hành Lời Chúa dạy qua việc sống hết mình cho Thiên Chúa trong Đức Giêsu Kitô và buông mình cho Chúa Thánh Thần, sau là yêu thương mọi người qua việc khiêm nhường, tha thứ, cầu nguyện và phục vụ tha nhân ngõ hầu mai ngày, Thiên Chúa sẽ đưa ta về Quê Trời như Mẹ. Hành trình đức tin của chúng ta phải được đan kết bằng những kinh nguyện, hy sinh, bác ái, khó nghèo, hiền lành, công chính, nhân hậu, bao dung và từ tâm, đặc biệt hăng say thông truyền Tình Yêu Thiên Chúa cho mọi người hôm nay. Đó chính là những nẻo đường Mẹ Maria và Chúa Giêsu con Mẹ đã đi. Chúng ta hãy mạnh dạn lên đường dấn thân và bước đi trong sự tự do, vui mừng và hy vọng để vác thập giá với Chúa Giêsu có Mẹ cùng bước dù những bước chân vui buồn khập khểnh, từng bước đường sướng khổ gập ghềnh trên dương thế hôm nay để rồi không phải dừng lại ở đồi Canvê trong Mùa Thương nhưng cùng với Mẹ hưởng trọn Mùa Mừng vui và hạnh phúc trên Nước Trời. Amen.

Thứ Tư, 19 tháng 11, 2014

LỄ ĐỨC MẸ DÂNG MÌNH 21-11

 I. Nguồn gốc
          Lễ Đức Mẹ dâng mình trong Đền thờ bắt nguồn từ bên Giáo Hội Đông phương, tưởng niệm ngày thánh hiến thánh đường Đức Maria ngày 21 tháng 11 năm 543 tại Giêrusalem. Đông phương coi biến cố thánh hiến này như cuộc đi vào “Đền thờ của Đức Rất Thánh Mẹ Thiên Chúa”. Họ mừng lễ trong vòng sáu ngày từ ngày 20 đến ngày 25 tháng 11, và dựa vào Ngụy thư Tiền Tin Mừng theo thánh Giacôbê được soạn vào giữa thế kỷ thứ II. Trong đó, tác giả kể lại câu chuyện Đức Trinh nữ lúc còn nhỏ đã được dâng hiến vào Đền Thờ và ở lại đó cho đến 12 tuổi: “Thầy tư tế đón tiếp con trẻ và chúc phúc như sau: Thiên Chúa đã chúc tụng danh của con trong mọi thế hệ... Thiên Chúa ban cho con trẻ ân sủng của Người, và nó nhảy mừng, và mọi người trong nhà Ít-ra-en yêu mến con trẻ...”.

Thứ Bảy, 4 tháng 10, 2014

LỄ ĐỨC MẸ MÂN CÔI 07-10





1. LỊCH SỬ

Căn cứ vào các nguồn tài liệu đáng tin nhất, một của Á Thánh Alan de la Roch, trong cuốn "De Dignitate Psalteri", và một của Thánh Louis Marie Grignion de Monfort, trong cuốn "Bí Mật Kinh Mân Côi", thì chính Đức Mẹ đã ban Kinh Mân Côi và dạy Kinh Mân Côi cho thánh Đaminh.  Theo miêu tả của tu sĩ Alan de la Roch, Dòng Đa Minh thế kỷ XV, Đức Mẹ đã hiện ra với thánh Đa Minh năm 1206 sau khi thánh nhân cầu nguyện và sám hối vì đã không thành công trong việc chống tà thuyết Albigensianism (Anbi giáo, một phong trào Kitô giáo được coi là hậu duệ thời trung cổ của Mani giáo (Manichaeism – xem chú thích bên dưới) ở miền Nam nước Pháp hồi thế kỷ XII và XIII). Thuyết này bị kết án là tà thuyết thời Tòa án Dị giáo, Inquisition. Đức Mẹ đã khen ngài về sự chiến đấu anh dũng của ngài chống lại tà thuyết và trao cho ngài Chuỗi Mân Côi làm vũ khí phi thường, đồng thời giải thích cách sử dụng và hiệu quả của Chuỗi Mân Côi. Đức Mẹ bảo thánh Đaminh rao truyền Chuỗi Mân Côi cho những người khác. Từ đó, thánh Đaminh là sứ giả của Đức Mẹ và là tông đồ tiên khởi truyền bá Kinh Mân Côi từ năm 1214.

Thứ Ba, 24 tháng 6, 2014

LỄ TRÁI TIM VÔ NHIỄM ĐỨC MẸ




1. Lịch sử



Phúc âm Thánh Luca ba lần trực tiếp nói về Trái Tim Mẹ là nền tảng chính yếu lòng tôn sùng Trái Tim Mẹ: (1) "Maria giữ kỹ mọi điều ấy và hằng ngày suy nghĩ trong lòng" (Lc 2,19). (20 "Mẹ Ngài giữ kỹ hết các điều ấy trong lòng" (Lc 2,51). (3) "Một mũi gươm sẽ đâm thâu qua lòng Bà" (Lc 2,35). Câu Phúc âm này là nền tảng chính yếu của lòng tôn sùng Trái Tim Đức Mẹ.
          Thánh Anselmô, nhà thần học Eadmer, Thánh Bênađô, và nhà thần học Hugh St. Victor khởi đầu sùng kính Trái Tim Đức Mẹ. Rồi Thánh Mechtilđê, Thánh Giêtruđê, Thánh Brigitta, nhất là Thánh Bênađinô là "tiến sĩ của Trái Tim Mẹ", tiếp tục phong trào sùng kính Trái Tim Đức Mẹ.
          Đến thế kỷ XVII, lòng sùng kính Trái Tim Mẹ mới được phổ biến rộng rãi do Thánh Euđê mà Đức Thánh Piô X gọi là "sư phụ, là tiến sĩ và là tông đồ" của Phụng vụ sùng kính hai Thánh Tâm Chúa Giêsu và Mẹ Maria. Năm 1648, nhiều Giám mục nước Pháp ban phép mừng lễ Trái Tim Mẹ trong giáo phận các ngài ngày mồng 8 tháng 2. Năm 1674, Đức Clementê X ban phép mừng lễ đó cho Bổn mạng dòng của Thánh Euđê vào ngày 20 tháng 10. Năm 1787, Đức Piô VI ban phép các nữ tu dòng Đức Mẹ Gabrie mừng lễ "Rất Thánh Trái Tim Mẹ Maria" ngày 22 tháng 8. Năm 1799, tất cả các nhà thờ giáo phận Palermô nước Ý được mừng lễ này. Năm 1805, tất cả các giáo phận và các dòng tu muốn mừng lễ này đều được Đức Piô VII ban phép. Năm 1855, dưới triều đại Đức Piô IX, giờ kinh và Thánh lễ đã được Thánh bộ Lễ nghi chấp thuận.

Thứ Năm, 22 tháng 5, 2014

LỄ ĐỨC MẸ THĂM VIẾNG BÀ Ê-LI-SA-BÉT

 1. Lịch sử

Từ thế kỷ VI, bên Giáo hội Đông phương, thánh truyện Đức Mẹ thăm viếng Thánh Ê-li-sa-bét theo Thánh sử Luca (1,39-56) được đọc ngày thứ Sáu sau Chúa nhật III mùa Vọng nhưng chưa phải là lễ, đến sau thì mừng lễ vào ngày 2 tháng 7.
Bên Tây phương, năm 1263, Dòng Phanxicô khởi xướng mừng lễ này. Năm 1386, Công đồng Prague nước Áo công nhận lễ này do mỹ ý của Đức Cha Gioan Jenstein, Tổng Giám mục thành Prague mừng lễ vào ngày 28 tháng 4 với hai lý do. Lý do thứ nhất: xin ơn hiệp nhất Giáo hội trong thời kỳ có sự tranh chấp giữa Giáo hoàng giả Clementê III tại Avignon (Pháp) với Đức Urbanô VI tại Rôma. Thứ hai, Mừng lễ này ngoài mùa Chay, và trong mùa Phục sinh sau lễ Truyền tin ngày 25 tháng 3.
Năm 1389, Đức Urbanô VI chuẩn bị thành lập lễ này trong khắp Giáo hội để công bố Năm Thánh 1390. Nhưng chưa kịp thi hành thi ngài băng hà ngay năm đó. Đức Bônifaciô IX lên nối quyền liền thi hành quyết định của vị tiền nhiệm, năm 1401 ngài thành lập lễ này vào ngày mùng 2 tháng 7 hàng năm trong khắp Giáo hội. Năm 1441, Công đồng Basel (Thụy Sĩ) xác nhận lễ này. Đức Sixtô IV soạn kinh Nhật tụng đặc biệt. Đức Thánh Piô V đưa lễ này vào sách kinh Phụng vụ. Năm 1608 Đức Clêmentê VIII đặt kinh Phụng vụ và lễ như ngày nay. Năm 1969, Đức Phaolô VI đổi sang ngày 31 tháng 5 sau ngày lễ Truyền tin ngày 25 tháng 3, và trước lễ sinh nhật Thánh Gioan Tẩy giả ngày 24 tháng 6.

2. Suy niệm
CUỘC THẮM VIẾNG TÌNH YÊU
Đức Maria đã đi thăm người chị họ Ê-li-sa-bét. Dù đường sá xa xôi, vất vả, qua miền đồi núi, Đức Maria vẫn lên đường viếng thăm vì yêu thương. Chính tình thương đã thúc đẩy bước chân Mẹ. “Đẹp thay trên đồi núi, bước chân người loan báo Tin mừng, công bố bình an, người loan tin hạnh phúc, công bố ơn cứu độ” (Is 52,7).
Tình yêu đòi hỏi phải biểu lộ ra, chứ không giữ kín bên trong. Một tình yêu giữ kín, không được biểu lộ thành hành động, không phải là một tình yêu đích thực. Tình yêu phải được biểu lộ ra thành sự quan tâm, chăm sóc, năng tìm cách gặp gỡ, giúp đỡ, hy sinh cho người thân, làm cho người thân trở nên tốt đẹp, hạnh phúc hơn.
Tình yêu đích thực đòi hỏi phải năng gặp nhau, nhất là những lúc người mình yêu có chuyện vui buồn. Đức Phật nói: “Yêu nhau mà không được ở gần nhau, mà phải xa cách nhau thì sẽ đau khổ”. Ngài gọi cái khổ ấy là “ái biệt ly khổ”. Tục ngữ có câu: “Nhất nhật bất kiến như tam thu hề!” (một ngày không gặp nhau thì dài như ba năm). Do đó, đi thăm viếng nhau là đòi hỏi của tình yêu đích thực, là biểu lộ sự quan tâm đến nhau.
Đức Mẹ là mẫu gương tuyệt vời. Khi đến thăm bà Isave, Mẹ đem Chúa đến cho người thân của mình. Nhờ Mẹ mang Chúa đến, nên không chỉ bà Ê-li-sa-bét vui mừng, mà hài nhi trong lòng bà cũng vui theo mà “nhảy lên” hân hoan. Nhảy mừng diễn tả niềm vui. Đây là niềm vui ơn cứu độ. Sự hiện diện của Đức Maria mang đến niềm vui và còn có sự biến đổi khiến hai mẹ con bà Ê-li-sa-bét, được tràn đầy Thánh Thần, và nhờ đó nhận ra được sự hiện diện của Thiên Chúa nơi Mẹ. Gia đình Bà Ê-li-sa-bét là gia đình đầu tiên được Chúa Cứu Thế viếng thăm. Đây là gia đình diễm phúc đón nhận niềm vui ơn cứu độ.
Đến thăm nhau không chỉ là một phương cách biểu lộ tình yêu, nói lên sự quan tâm, mà còn là một dịp thuận lợi để đem Chúa đến cho người mình thăm viếng. Nhờ ta đem Chúa đến, mà niềm vui của người được thăm tăng lên gấp bội, và họ nhận lãnh được Thánh Thần nhờ sự hiện diện của Chúa do ta mang đến. Chính Thánh Thần của Chúa trong ta sẽ thánh hóa, biến đổi họ nên tốt lành, thánh thiện hơn. Đem Chúa đến cho người mình thăm viếng, không có nghĩa là mình nói thật nhiều thật hay về Chúa cho họ nghe. Đức Maria có nói gì về Chúa với Bà Ê-li-sa-bét  đâu! Chúa là tình thương, ta chỉ mang Chúa đến cho tha nhân, khi chính ta thật sự yêu thương họ bằng một tình yêu chân thực. Đến với nhau bằng tình thương, bằng niềm vui là sự gặp gỡ có Chúa hiện diện rồi. Khi người ta mang hận thù oán ghét, ý nghĩ đen tối đến với nhau thì nảy sinh bất hoà chiến tranh và đau khổ. Ta chỉ mang Chúa đến cho tha nhân khi ta đến với ý muốn làm hiện thân của Chúa đối với họ, và coi họ cũng là hiện thân của Chúa đối với mình. Cố nhạc sĩ Trịnh Công Sơn nói rằng ngày sau sỏi đá còn có nhau, thì chúng ta ngày hôm nay cần có nhau, cần phải năng thăm viếng những người chúng ta yêu mến, đặc biệt, những người bệnh tật, già cả, những người nghèo hèn, đau khổ, những người khô khan thờ ơ, những gia đình rối rắm bất hoà… Họ rất cần đựơc thăm viếng. Đến thăm nhau là một phương cách tuyệt vời để biểu lộ tình huynh đệ, tình yêu thương của đạo Chúa.
Thiên Chúa yêu thương nhân loại nên đã ban tặng Con yêu dấu là Đức Giêsu. Người đến với con người trong lịch sử, cách đây hơn 2000 năm. Người đem ơn cứu độ và đem hạnh phúc đến cho mọi người, cho từng người. Khi còn tại thế, Đức Giêsu đã đến thăm nhiều người, nhiều gia đình. Người quan tâm chăm sóc chữa lành những bệnh nhân. Người giảng dạy và ân cần với những người nghèo. Người cải hóa nhiều tội nhân. Người biểu lộ tình yêu thương cho mọi người. Đức Giêsu muốn chúng ta tiếp nối công việc của Người.
Đức Maria viếng thăm, phục vụ và đem Chúa đến với gia đình bà Ê-li-sa-bét. Đó là hình ảnh tuyệt đẹp và là mẫu gương cho mọi tín hữu noi theo Mẹ. Dành thời giờ quý báu để thăm nhau. Chia sẻ, tình thương và đem niềm vui có Chúa cho tha nhân luôn là sứ vụ của con cái Chúa.
3. Tâm sự với Mẹ
Lạy Mẹ Maria, xin Mẹ giúp chúng con biết quan tâm đến niềm vui, nỗi khổ, và nhu cầu của từng người sống chung quanh chúng con. Xin giúp chúng con biết hy sinh thì giờ cho dù rất quí báu để năng đến gặp gỡ, thăm viếng nhau, hầu nhờ đó thông cảm được những nỗi vui buồn và nhu cầu của anh chị em. Xin giúp chúng con biết sẵn sàng chia vui sẻ buồn và tìm mọi cách để giúp đỡ những nhu cầu chính đáng của họ. Amen.


Thứ Bảy, 10 tháng 5, 2014

LỄ ĐỨC MẸ FATIMA 13-10

LỄ ĐỨC MẸ FATIMA 13-10
 Kết quả hình ảnh cho đức mẹ fatima
1. Lịch sử

Đức Mẹ Fatima là một trong số nhiều tước hiệu mà Giáo Hội dành cho Đức Trinh Nữ Maria. Tước hiệu này phát xuất từ việc Đức Mẹ hiện ra 6 lần với 3 em bé chăn cừu làng Fatima (Bồ Đào nha) là Lucia dos Santos, Francisco Marto và Jacinta Marto từ ngày 13.5 tới ngày 13.10.1917. Tước hiệu Đức Bà Mân Côi cũng được dùng để chỉ Đức Trinh Vương Maria đã hiện ra này. Ba em bé kể rằng, Bà đẹp đã đích thân xưng mình là "Đức Mẹ Mân Côi".  Từ hai tước hiệu trên gộp lại thành: "Đức Mẹ Mân Côi Fatima"
Fatima là 1 giáo xứ nông thôn gồm khoảng 2.500 người cư ngụ rải rác trong khoảng 40 thôn xóm. Mọi người đều lao động trên các đồng ruộng. Các trẻ em cũng phải giúp đỡ cha mẹ những việc nhẹ như chăn dắt bò, dê, cừu vv...Phần lớn dân cư đều mù chữ, chỉ có khoảng 10% phụ nữ biết đọc, biết viết.

Thứ Bảy, 26 tháng 4, 2014

THÁNG HOA ĐỨC MẸ



 
1. Lịch sử



Thời xa xưa, cứ vào ngày đầu tháng Năm, người cựu La-mã thường cung nghinh thánh tượng Đức Mẹ với danh xưng, "Nữ Vương các loài hoa". Họ vừa đi vừa hát và nhảy múa quanh kiệu hoa của Đức Mẹ. Tập tục tốt đẹp và rất có ý nghĩa nầy, lần hồi lan rộng khắp Âu Châu và cả Anh Quốc trong suốt thời trung cổ. Vào thế kỷ thứ 16, việc tổ chức cung nghinh Đức Mẹ một cách long trọng nầy, còn có thánh Philip Neri (1515-95) góp phần nữa. Ngài có sáng kiến trang hoàng thánh tượng Đức Mẹ bằng các loại hoa.

Chủ Nhật, 23 tháng 3, 2014

LỄ TRUYỀN TIN 25-3



 
1. LỊCH SỬ
Lễ Truyền Tin là biến cố Thiên sứ truyền tin cho Đức Trinh Nữ Maria rằng  Trinh nữ Maria rằng cô sẽ thụ thai qua quyền năng của Chúa Thánh Thần để trở thành mẹ của Con Thiên Chúa. Trong sự kiện này, Gabriel đã bảo Maria hãy đặt tên cho con trai mình là Giêsu, có nghĩa là "Đấng Cứu Thế". Câu chuyện đã được tác giả Luca ghi lại nơi chương 1, 26-38.
Lễ Truyền tin được mừng đầu tiên tại Giáo hội Đông phương vào Chúa nhật I mùa Vọng từ thế kỷ IV để kính nhớ mầu nhiệm Nhập Thể. Đến thế kỷ VII, lễ này lan sang Giáo hội Tây phương để kỷ niệm Đức Trinh Nữ Maria chịu thai Ngôi Lời Nhập Thể, đồng thời kỷ niệm Chúa Kitô được xức dầu làm Thượng Tế và làm Trung Gian giữa Thiên Chúa và loài người.
Đức Thánh Sergiô I lập bốn lễ: Lễ Đức Mẹ tịnh tẩy, dâng Con vào đền thờ, lễ Truyền tin, lễ Sinh nhật Đức Mẹ, và lễ Đức Mẹ lên trời. Mỗi dịp lễ này, Ngài truyền dạy tổ chức cuộc rước Đức Mẹ từ nhà thờ Thánh Adrianô về đền thờ Đức Bà Cả tại Rôma. Thánh Phêrô Kim ngôn đã giảng nhiều trong lễ Truyền tin.
Thánh Augustinô đã đề nghị mừng lễ Truyền tin vào ngày 25 tháng 3 cho đúng chín tháng trước lễ Giáng sinh, nhưng Giáo hội Tây Ban Nha không đồng ý, nên Công đồng Toleđô năm 656 ấn định mừng tám ngày trước lễ Giáng sinh rồi đổi sang ngày 18 tháng Giêng để tránh mùa Chay. Đức Bênêđictô XIV ra sắc lệnh ấn định khắp Giáo hội mừng lễ Truyền tin vào ngày 25 tháng 3 theo Thánh Augustinô đã đề nghị và như ngày nay.

Thứ Hai, 10 tháng 2, 2014

LỄ ĐỨC MẸ LỘ ĐỨC 11-2



 1. LỊCH SỬ

          Lộ Đức năm 1858 là một thành phố chừng 5,000 cư dân, nằm cạnh sông Pau, lối vào thung lũng dẫy núi Pyrénées phía đông nam nước Pháp, giáp ranh giới Tây Ban Nha. Đức Mẹ chọn Bernađetta Soubinous, 14 tuổi, con nhà nghèo, đau yếu, đơn sơ thật thà tuy chưa học giáo lý. Trưa ngày 11 tháng 2 là thứ Năm sau lễ Tro, Bernađetta cùng với em là Antoinetta và cô bạn Jeanna đi vào rừng kiếm củi đốt lò sưởi. Cô em và cô bạn lội qua sông nước cạn, Bernađetta chưa kịp trụt giầy lội theo, còn đang đứng trước hang Massabielle. Bỗng một cơn gió mạnh, Bernađetta nhìn lên thấy một áng mây vàng và một Bà Đẹp hiện ra. Bà mặc áo dài trắng, đội khăn lúp dài trắng, thắt lưng xanh lơ, đeo tràng hạt vàng ở cánh tay phải. Mỗi chân Bà có một bông hồng vàng. Bà nhìn Bernađetta, mỉm cười và làm dấu thánh giá lần chuỗi, môi không mấy máy. Bernađetta quì xuống lần chuỗi với Bà. Bà làm hiệu bảo Bernađetta tới gần, nhưng Bernađetta sợ không dám. Rồi Bà biến đi. Cô em và cô bạn không thấy gì, chỉ có Bernađetta được thấy sự lạ.

Chủ Nhật, 29 tháng 12, 2013

LỄ MẸ THIÊN CHÚA



 
1. NGUỒN GỐC
  a. Thánh Kinh
Khi Đức Mẹ hỏi làm thế nào Ngài có thể trở thành Mẹ Đấng Được Xức Dầu, thì thiên thần cho ngài hay: “Chúa Thánh Thần sẽ ngự xuống trên bà, và quyền năng Đấng Tối Cao sẽ bao phủ bà. Và do đó, Đấng Thánh từ bà sinh ra sẽ được gọi là Con Thiên Chúa” (Lc 1,35). Đàng khác, khi Đức Mẹ viếng thăm bà Êlisabét, bà liền lớn tiếng rằng: “Bởi đâu tôi được Thân Mẫu Chúa tôi đến với tôi thế này?” (Lc 1, 42). Cho nên, Thánh Phaolô nhắc lại với tín hữu Galát rằng: “Khi thời gian tới hồi viên mãn, Thiên Chúa đã sai Con mình tới, sinh làm con một người đàn bà, và sống dưới Lề Luật” (Gl 4,4).