Lời Chúa: Lc
2,22-32
“Khi đã đến ngày lễ thanh tẩy của các ngài theo luật Mô-sê, bà Ma-ri-a
và ông Giu-se đem con lên Giê-ru-sa-lem, để tiến dâng cho Chúa, như đã chép
trong Luật Chúa rằng: "Mọi con trai đầu lòng phải được gọi là của thánh,
dành cho Chúa", và cũng để dâng của lễ theo Luật Chúa truyền, là một đôi
chim gáy hay một cặp bồ câu non. Hồi ấy ở Giê-ru-sa-lem, có một người tên là
Si-mê-ôn. Ông là người công chính và sùng đạo, ông những mong chờ niềm an ủi của
Ít-ra-en, và Thánh Thần hằng ngự trên ông.26 Ông đã được Thánh Thần
linh báo cho biết là ông sẽ không thấy cái chết trước khi được thấy Đấng Ki-tô
của Đức Chúa. Được Thần Khí thúc đẩy, ông lên Đền Thờ. Vào lúc cha mẹ
Hài Nhi Giê-su đem con tới để chu toàn tập tục Luật đã truyền liên quan đến Người,
thì ông ẵm lấy Hài Nhi trên tay, và chúc tụng Thiên Chúa rằng: "Muôn lạy
Chúa, giờ đây theo lời Ngài đã hứa, xin để tôi tớ này được an bình ra đi. Vì
chính mắt con được thấy ơn cứu độ Chúa đã dành sẵn cho muôn dân: Đó là ánh sáng
soi đường cho dân ngoại, là vinh quang của Ít-ra-en Dân Ngài”.
Diễn giải
Ba ơn gọi bao
quát như là phương tiện để đạt tới hạnh phúc siêu nhiên mà tất cả mọi người đã
được gọi để thụ hưởng trong tình yêu Thiên Chúa. Đó là ơn gọi làm người, ơn gọi
làm kitô hữu, và ơn gọi tu trì trong đời sống tận hiến. Cả ba ơn gọi này liên
kết chặt chẽ với nhau. Nhưng trong thực tế và nhìn bề ngoài ta có thể thấy có
những kẻ chỉ làm người mà không là kitô hữu và có những kẻ làm kitô hữu lại
không là tu trì trong đời sống tận hiến, còn người tận hiến thì mới liên kết cả
ba.
1/ Ơn gọi làm người
Con người đã
được dựng nên cả xác lẫn hồn, với trí năng hiểu biết, ý chí tự do và tình cảm
bén nhạy, để nhìn nhận Thiên Chúa là nguyên thuỷ và tin yêu Người là mục đích
của đời mình. Với thành tâm thiện chí qua những công trình sáng tạo của Thiên
Chúa họ cũng có thể nhìn ngắm được Thiên Chúa, nhận ra quyền năng và thần tính
của Người (x. Rm 1,19… ). Đồng thời ân sủng luôn tác động trong họ, họ nhìn vũ
trụ không phải chỉ bằng lý trí mà còn do một niềm tin chấp nhận một cách kín
cẩn sứ điệp của Thiên Chúa ban ra qua những công trình của Người. Thái độ trên
đây mang theo một tâm trạng luôn luôn sẵn sàng đón nhận lời Thiên Chúa. Lời
Chúa nói đây theo tác giả thư Do Thái chỉ gồm có hai khoản đó là tin Người hiện hữu và Người thưởng công
những ai tìm kiếm Người chẳng hạn, Apbraham, Isaac, Giacóp… mong ước
một quê hương tốt đẹp hơn, đó là quê hương trên trời. Bởi vậy, Thiên Chúa đã
không hổ thẹn để cho các ngài gọi mình là Thiên Chúa của các ngài, vì Người đã
chuẩn bị một thành cho các ngài
(Dt 11,6).
Con người bất cứ
ở thời đại và nơi nào, tuyệt đối cần phải tin hai khoản giáo lý nói trên. Đối
với những người chưa phải là kitô hữu tức là chưa tin vào Phúc Âm, Thiên Chúa
có thể coi niềm tin nói trên là đủ. Do đó ta không nên thất vọng về ơn gọi
(sống hạnh phúc vĩnh viễn với Thiên Chúa) của những người chưa được biết Tin
Mừng và chưa được rửa tội. Tuy nhiên, số phận nói trên rất bấp bênh và chắc
chắn không thuận lợi cho việc cứu độ bằng một niềm tin minh nhiên vào Chúa
Kitô, kèm theo việc thuộc về Giáo Hội một cách hữu hình. Do đó xuất hiện một ơn
gọi khác: Đó là ơn gọi làm Kitô hữu. Cho nên, Thánh Phaolô xác tín: “Tôi khuyên ai nấy dâng lời cầu xin, khẩn
nguyện, nài van, tạ ơn cho tất cả mọi người, cho vua chúa và tất cả những người
cầm quyền, để chúng ta được an cư lạc nghiệp mà sống thật đạo đức và nghiêm chỉnh.
Đó là điều tốt và đẹp lòng Thiên Chúa, Đấng cứu độ chúng ta, Đấng muốn cho mọi
người được cứu độ và nhận biết chân lý. Thật vậy, chỉ có một Thiên Chúa, chỉ có
một Đấng trung gian giữa Thiên Chúa và loài người: đó là một con người, Đức
Ki-tô Giê-su, Đấng đã tự hiến làm giá chuộc mọi người. Điều này đã được chứng
thực vào đúng thời đúng buổi” (1Tm 2,1-4.
2/ Ơn gọi làm Kitô hữu
Theo ý định cụ
thể của Thiên Chúa, Ngài chỉ gọi ta một cách chung cuộc để kết hợp ta vĩnh viễn
với Ngài, qua Chúa Giêsu là Đấng trung gian duy nhất. Do đó Ngài muốn cho mọi
người được cứu rỗi thì hoặc mặc nhiên hoặc minh nhiên Ngài gọi ta làm Kitô hữu,
để ta đồng hoá với Đức Kitô là Con thật của Ngài, và như vậy ta trở thành những
người con trong Con của Ngài. Ơn gọi làm Kitô hữu là phương tiện chắc chắn
nhất, hữu hiệu nhất để ta nhận được ơn gọi chung cuộc hưởng hạnh phúc với Chúa,
“Ai tin và chịu phép Rửa sẽ được cứu rỗi.
Ai không tin sẽ bị luận phạt” ( Mc 16:16). Ơn gọi làm Kitô hữu còn là: Thiên Chúa ban cho ta tin vào
Đức Kitô, hy vọng vào Đức Kitô và yêu mến Đức Kitô. Tất cả ba thái độ tin, cậy,
mến giúp ta luôn chấp nhận Thánh Ý Thiên Chúa được biểu lộ qua sứ điệp và đời
sống của Đức Kitô. Đáp lại ơn gọi nói trên, ta phải có một niềm tin cam kết dấn
cả cuộc đời vào việc giữ giới răn của Thiên Chúa nhất là giới răn bác ái. Tuy
nhiên sứ điệp và đời sống Chúa Giêsu còn nêu cho ta những nhân đức xán lạn để
một số tâm hồn quảng đại nào đó tin, cậy, mến Đức Kitô trên một mức độ cao hơn.
Đó là ơn gọi sống đời tận hiến trong bậc tu trì (Tu dòng, Tu hội) hoặc trong
bậc giáo sĩ.
3/ Ơn gọi sống đời tận hiến
Nói chung ơn gọi
này có nghĩa là dâng hết bản thân mình cho bản thân Đức Kitô, với một tình yêu
không mặc cả, không so đo, không giữ lại cho mình một phần nào. Ơn gọi này là
được diễm phúc chẳng những tuân theo tất cả những gì Đức Kitô truyền, mà còn
sống theo những gì Người đã khuyên và hơn nữa, sống như chính Người đã sống. Đi
vào con đường tận hiến, chúng ta có hẳn một lý tưởng cụ thể được thực hiện một
cách trọn vẹn nơi Đức Kitô. Người vừa là gương mẫu, một gương mẫu đầy hấp dẫn,
vừa là sức mạnh cho những tâm hồn tận hiến như chúng ta, nếu chúng ta quảng đại
đáp lời đầy yêu thương của Chúa Cha đang mời gọi theo Chúa Kitô và để Chúa Kitô
sống trong ta.
a/ Sự kiện theo
Chúa Kitô, trước hết bao gồm mọi sự đoạn tuyệt với quá khứ, với thế gian, với quỷ dữ,
với xác thịt. Đó là khía cạnh tiêu cực của những ai muốn làm môn đệ
theo Chúa. Tích cực, họ phải rập khuôn đời sống của họ vào đời sống Chúa Giêsu,
nghe những lời Ngài dạy, đồng thời sống theo đó, luôn luôn nhớ đến ơn lành của
Ngài. Cho nên, trong nghi thức phong chức phó tế, Đức giám mục trao sách Phúc
âm cho tân chức và nói: “Con hãy
nhận lấy Phúc Âm Đức Kitô mà con đã trở thành người rao giảng, và con hãy biết
là phải tin điều con đọc, dạy điều con tin và thi hành điều con dạy”.
b/ Theo Chúa
Giêsu còn có nghĩa là số phận của những tâm hồn tận hiến theo Người nối liền
với số phận của Chúa Giêsu, như trường hợp nhóm 12 tông đồ. Trước hết Người đặt
họ làm những người cộng tác thân mật trong việc lập Nước Thiên Chúa. Thứ đến
khi Người tiên báo sẽ thụ nạn ở Giêrusalem, Người dạy cho các tông đồ biết rằng
đến lượt họ phải vác thập giá mình, nếu họ muốn theo Người (Mc 6,34-38;
9,35-45; Ga 12,23-25; 13,13-16) (tử đạo ngoài trừ Gioan). Như vậy, theo Chúa
Giêsu là chấp nhận một cuộc liều mạng lớn lao và Chúa đã nói rõ cho các môn đệ
Ngài biết đời sống thực tế đầy hy sinh và đau khổ chờ đợi họ.
c/ Nhưng theo
Chúa Giêsu trong đời tận hiến còn có nghĩa là thông phần những đặc ân của Người
nữa. Điều này được Người nhấn mạnh nhiều lần. Chúa Giêsu là Chúa của hậu thế,
những người theo Người cũng sẽ thông phần chức Chúa tể của Người. Những gì họ
phải từ bỏ trong phạm vi của cải, gia đình… đều được bù trừ ngay ở hiện thế
bằng những của thiêng liêng gấp trăm lần và trong đời hậu thế bằng cuộc sống
vinh hiển đời đời bất tận. “Bấy giờ ông Phê-rô lên tiếng thưa Người:
"Thầy coi, phần chúng con, chúng con đã bỏ mọi sự mà theo Thầy. Vậy chúng
con sẽ được gì? " Đức Giê-su đáp: "Thầy bảo thật anh em: anh em là những
người đã theo Thầy, thì đến thời tái sinh, khi Con Người ngự toà vinh hiển, anh
em cũng sẽ được ngự trên mười hai toà mà xét xử mười hai chi tộc Ít-ra-en. Và
phàm ai bỏ nhà cửa, anh em, chị em, cha mẹ, con cái hay ruộng đất, vì danh Thầy,
thì sẽ được gấp bội và còn được sự sống vĩnh cửu làm gia nghiệp” (Mt 19,28-29).
Cho nên, trong bài giảng
ngày 2.2.2020, ngày cầu nguyện cho đời sống Thánh hiến, Đức Thánh Cha Phanxicô
nói rằng cúng ta những người sống bậc thánh hiến đã nhìn thấy kho báu đáng giá
hơn tất cả những của cải thế gian chính là Đức Kitô ánh sáng cho muôn dân. Vì
kho báu ấy, anh chị em đã để lại những thứ quý giá, như những của cải, như việc
hình thành nên gia đình riêng của mình mà anh chị em theo Chúa Kitô. Tại sao
anh chị em làm điều đó? Thưa vì anh chị em đã yêu mến Chúa Giêsu, anh chị em
nhìn thấy mọi thứ nơi Người và, bị cuốn hút bởi ánh mắt của Người, cho nên anh
chị em giã từ những thứ còn lại. Đó là nhìn thấy những gì là quan yếu trong cuộc
sống. Đây là những gì mắt của người tận hiến nhìn thấy: đó là ân sủng của Thiên
Chúa tuôn đổ vào tay họ. Người tận hiến là một trong những người nhìn vào bản
thân mình mỗi ngày và nói: “Tất cả mọi thứ là một hồng ân, tất cả mọi thứ đều
là ân sủng”. Anh chị em thân mến, chúng ta không xứng đáng với đời tu, nhưng đó
là một món quà tình yêu mà chúng ta đã nhận được.
Khi chúng ta nhìn lại, khi đọc lại lịch sử đời mình,
chúng ta thấy ân sủng trung tín của Chúa ở đó, không chỉ trong những khoảnh khắc
tuyệt vời của cuộc sống, mà cả trong những mỏng dòn, yếu đuối, và đau khổ. Tên
cám dỗ quỷ dữ, cứ nhất mực nhắc đến những bất hạnh của chúng ta, và hai bàn tay
trắng của chúng ta. Nó nói rằng trong nhiều năm qua anh chị em chẳng cải thiện
được chút nào, anh chị em đã không đạt được những gì anh chị em có thể, họ
không cho phép anh chị em làm những gì anh chị em đã được dẫn dắt, anh chị em
không luôn luôn trung thành, anh chị em không có khả năng… từ đó, chúng ta chạy
theo những ý nghĩ và cảm xúc làm chúng ta hoang mang và chúng ta có nguy cơ mất
đi la bàn của mình, là sự nhưng không của Chúa. Bởi vì Chúa luôn yêu thương
chúng ta và hiến thân cho chúng ta, ngay cả trong những bất hạnh của chúng ta.
Thánh Giêrôm đã trao cho Chúa nhiều điều nhưng Chúa cứ đòi hỏi thêm nữa. Thánh
nhân nói với Chúa: “Nhưng, Lạy Chúa, con đã trao cho Chúa tất cả mọi thứ, tất cả
mọi thứ, còn gì nữa đâu?”. Chúa trả lời “Hãy trao cho Ta cả tội lỗi của con, những
khổ đau, và những bất hạnh của con”. Khi chúng ta dán mắt nhìn lên Chúa, chúng
ta mở lòng mình ra cho ơn tha thứ là điều canh tân chúng ta và chúng ta được củng
cố nhờ lòng trung tín của Chúa. Ngày hôm nay, chúng ta có thể tự hỏi mình: “Tôi
đang hướng cái nhìn của tôi vào ai: vào Chúa hay vào tôi?”
Để có cái nhìn đúng đắn về cuộc sống, chúng ta phải cầu
xin cho biết cách cảm nhận được ân sủng của Thiên Chúa dành cho chúng ta, như
ông Simêôn. Tin Mừng lặp đi lặp lại ba lần rằng ông quen thuộc một cách thân mật
với Chúa Thánh Thần, là Đấng hằng ngự trên ông, linh báo cho ông, và thúc đẩy
ông (xem câu 25-27). Ông quen thuộc với Chúa Thánh Thần, với tình yêu của Chúa.
Cuộc sống tận hiến, nếu vẫn vững vàng trong tình yêu của Chúa, sẽ thấy được vẻ
đẹp. Ông thấy rằng đức thanh bần không phải là một cố gắng cam go, mà là một sự
tự do siêu việt, mang lại cho chúng ta Thiên Chúa và tha nhân như những gì giàu
có thực sự. Ông thấy rằng đức khiết tịnh không phải là một sự vô sinh khắc khổ,
mà là cách để yêu mà không cần chiếm đoạt. Ông thấy rằng đức vâng lời không phải
là kỷ luật, mà là sự chiến thắng trên thói tự cao tự đại của chúng ta theo
phong cách của Chúa Giêsu là khiêm nhường.
Ông Simêôn thấy nơi Chúa Giêsu nhỏ bé, khiêm nhường, Đấng
đến để phục vụ chứ không phải để được phục vụ, và ông tự xác định mình như người
tôi tớ. Những người nhìn sự vật như Chúa Giêsu nhìn, thì học được cách sống để
phục vụ. Họ không chờ đợi những người khác bắt đầu, nhưng chính họ bắt đầu tìm
kiếm người hàng xóm của mình, như ông Simêôn tìm kiếm Chúa Giêsu trong đền thờ.
Hàng xóm trong đời tận hiến của tôi là ở đâu? Đây là câu hỏi: Nơi nào là hàng
xóm trong đời tận hiến? Trước hết là trong cộng đồng của chính mình. Chúng ta cần
phải xin cho được ân sủng để biết làm thế nào để tìm kiếm Chúa Giêsu nơi những
anh chị em được trao cho chúng ta. Chính ở đó, chúng ta có thể bắt đầu đưa đức
ái vào thực hành: ngay tại nơi chúng ta sống, bằng cách chào đón những anh chị
em của mình trong sự nghèo khó của họ, như khi ông Simêôn chào đón Chúa Giêsu
đơn sơ và khó nghèo. Ngày nay, nhiều người chỉ nhìn thấy nơi tha nhân những trở
ngại và phức tạp. Chúng ta cần có một ánh mắt tìm kiếm người lân cận của chúng
ta, một ánh mắt đưa những người ở xa đến gần hơn. Các tu sĩ nam nữ, những người
bắt chước Chúa Giêsu, được mời gọi nhìn vào thế giới, với một ánh mắt thương cảm,
một ánh mắt tìm kiếm những người ở xa; một ánh mắt không lên án, nhưng khuyến
khích, giải phóng, an ủi, một ánh mắt của lòng trắc ẩn. Đó là một ánh mắt lặp lại
cụm từ trong Phúc Âm, khi nói về Chúa Giêsu, “Ngài chạnh lòng thương”. Đó là
cách Chúa Giêsu ngự xuống trên mỗi người chúng ta.
Vậy, giờ đây, chúng ta hãy cảm tạ Chúa vì hồng ân cuộc
sống tận hiến và xin Chúa cho chúng ta một cách nhìn mới, biết cách nhận ra ân
sủng, biết cách tìm kiếm người lân cận của mình, và biết hy vọng. Rồi mắt chúng
ta cũng sẽ thấy ơn cứu độ.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét