Trang

Thứ Bảy, 23 tháng 11, 2019

ĐI TU ĐỂ LÀM MƯU ÍCH CHO CÁC ĐẲNG LINH HỒN


Lời Chúa: Ga 11,17-27

Có một cô y tá kể câu chuyện có thật rằng khi tôi còn làm y tá của một bệnh viện. Tối hôm đó, bệnh viện của tôi nhận một nhóm nạn nhân của một tai nạn xe hơi thảm khốc. Trên xe là bốn em học sinh. Người lái xe 18 tuổi, say rượu và chạy xe quá tốc độ, lạc tay lái tông vào một chiếc xe tải đang đậu bên lề đường. Em ngồi sau tài xế là một em trai bị đầu dập khuôn mặt biến dạng và chết ngay sau khi xe chở đến bệnh viện. Lúc đó tôi bị kêu vào phòng và giao nhiệm vụ đưa xác em trai đã chết vào nhà xác vì em này chết không có giấy tờ tuỳ thân hơn nữa mặt mũi biến dạng, không biết tuổi tên là gì? Khi nghe tin vậy, tôi lắp bắp vâng lệnh và run sợ vì đây là lần đâu tiên xuống nhà xác. Tại nhà xác, bỗng nhiên tôi thấy hơi nhức đầu nên cúi gục vào lòng bàn tay một chút cho đỡ mỏi mắt. Khi tôi ngẩng đầu lên thì vụt một cái, thoáng có một bóng người mặc áo trắng lướt thật nhanh qua mặt. Tôi đảo mắt nhìn quanh. Không có ai cả! Tôi dụi mắt nhìn kỹ lại một lần nữa, lần này thì thật sự có một bóng áo trắng đang từ từ tiến lại gần tôi. Tôi mở mắt để nhìn cho rõ thì thấy có một cậu thanh niên rất trẻ, gương mặt xanh xao mệt mỏi đang đi lại phía tôi. Cậu đi nhẹ nhàng, xuất hiện trước mặt tôi. Cậu nhìn tôi, đôi mắt nâu hiền và ngây thơ đến nao lòng. Cậu lại gần và nói: “Chị ơi, em làm rớt cái ví trong xe. Trong đó có một món đồ rất quan trọng. Chị kiếm dùm em nghe chị. Nhớ nghe chị”. Không đợi tôi trả lời, cậu quay lưng đi thật nhanh và khuất bóng. Tự nhiên tôi cảm thấy lạnh buốt trong xương lạnh ra. Tôi rùng mình, tôi cố gắng đi về phòng trực và uống hai viên cảm sốt. Một lúc sau, tôi thấy từ từ dễ chịu, và lại nghĩ đến cậu bé hồi nãy. Cậu ta là ai, làm sao biết cậu ở đâu, đi kiếm cái xe gì, và cái ví gì nữa chứ? Tôi đi ra khỏi phòng trực với hy vọng gặp lại cậu bé, nhưng hỏi thăm những nhân viên quanh đó xem có ai gặp một cậu bé không, ai cũng lắc đầu không biết. Tôi đến phòng ba mẹ bé gái bị thương nặng để hỏi thăm, họ ngồi bên giường trong khi em vẫn đang nằm thiêm thiếp. Ông bà yên lặng chắp tay cầu nguyện. Tôi không biết làm gì hơn là ngồi xuống bên cạnh và góp lời cầu nguyện trong lòng. Vừa lúc đó, một ông cảnh sát tới, trên tay cầm một bọc giấy. Ông hỏi tôi, “người ta chỉ cho tôi là có một cô y tá ở đây biết xác chết chàng trai này. Trước khi xe kéo xe đi, chúng tôi kiểm tra trong xe và tìm thấy chiếc ví này rớt trong xe. Nó thuộc về người đã chết. Tôi muốn giao lại kỷ vật này cho người chết”.  Cầm cái ví, nghe đến xe bị tai nạn rồi  người tử nạn… tim tôi đập thình thịch và cổ họng tự dưng tắc nghẽn. Chân tôi bắt đầu run lập cập và tay thì nổi da gà. Sao giống y hệt những điều cậu bé kia vừa nói? Không lẽ mình vừa gặp ma sao? Tôi lắp bắp hỏi ông cảnh sát, “Ông có thể cho tôi xem qua chiếc ví được không?” Ông đưa tôi cái ví, tôi tần ngần mở chiếc ví ra. Thật vậy, trong ví ngoài một ít tiền nhỏ chỉ có tấm bằng lái xe. Tôi tò mò nhìn vào tấm bằng lái và hoảng sợ làm rơi chiếc ví xuống đất. Trên tấm bằng là hình của cậu bé vừa đến gặp tôi ít phút trước đây. Với gương mặt gầy và cặp mắt nâu trong vắt thơ ngây như đang nhìn xoáy vào tôi, như muốn nói một điều gì. Vậy ra cậu trong hình đây chính là người đã chết đó sao?  Tôi lượm chiếc ví lên, mở ra xem lại và lật tới lật lui. Quả thật không có gì khác ngoài vài tờ giấy $10 và $5, cùng tấm bằng lái. Tai tôi văng vẳng nghe tiếng của cậu bé, “chị nhớ giúp em nghe chị, nhớ nghe chị…” Tôi nhìn kỹ lại tấm bằng lái lần nữa. Trên bằng lái có tên, tuổi và hình chụp của cậu bé. Còn nữa, nằm ở góc phải của tấm bằng là có dòng chữ “hiến tặng thân xác cho những ai cần”. Như vậy là, chính hồn ma của cậu đã run rủi cho sở cảnh sát tìm thấy chiếc ví rơi trong gầm xe trước khi xe bị kéo đi; chính hồn ma của cậu đã tìm đến cô ý tá, và đưa đẩy cho ông cảnh sát gặp cô ý để mọi người có thể biết được không chỉ tên tuổi và ước nguyện của người chết để cho người sống nhớ đến họ luôn nhờ cái tên tuổi được lưu danh hấu thế chứ không phải chết là hết, sống chết có nhau, nhớ nhau và nhờ nhau.
 

Cho nên, trong suốt đời là Kitô hữu, là tu sĩ chúng ta luôn nhớ lời mời gọi của Giáo hội là nhớ tới, hiệp thông và cầu nguyện những người đã qua đời. Tại sao? Vì thứ nhất đó là đức tin và lời tuyên xưng sống động của chúng ta: “Tôi tin các thánh thông công”. Các Thánh thông công có nghĩa là các thánh trên Thiên đàng cầu bầu cùng Chúa cho ta, chúng ta là các thánh lữ hành lập công để dâng cho các linh hồn trong luyện ngục để họ giảm bớt hình phạt thanh luyện sớm được xứng đáng vào dự yến tiệc Con Thiên Chúa trên Thiên đàng. Cho nên, Giáo lý Hội Thánh dạy: "Tất cả những người chết trong ân nghĩa Chúa, nhưng chưa được thanh luyện hoàn toàn, mặc dù chắc chắn được cứu độ đời đời, còn phải chịu thanh luyện sau khi chết, nhằm đạt được sự thánh thiện cần thiết để vào hưởng phước Thiên Ðàng. Hội Thánh gọi việc thanh luyện cuối cùng của những người được chọn là luyện ngục" (số 1030-1031).

Vậy chúng ta có thể làm gì cứu giúp các linh hồn? Lời Chúa trong sách Macabêô II dạy rằng việc nhìn nhận phần thưởng dành cho những người an nghỉ cách đạo đức mang ý nghĩa lành thánh; do đó ông Yuda ‘đã xin dâng lễ tế cầu ơn xá tội cho những linh hồn người chết để họ được tha thứ tội lỗi”. Vâng, mỗi người chúng ta đều có những người thân yêu hay nhiều người đã ly trần. Họ chỉ mong chờ chúng ta nhớ đến họ bằng việc thắp hương trước di ảnh hay bài vị vì ông bà dạy “nhìn mặt mà bắt hình dong”, nhìn hình ảnh đề thấy con người họ đang sống giữa chúng ta, đừng để hình bóng họ quên lãng trong dĩ vãng hay cũng đừng để họ là những kẻ vô danh. Là người Công giáo, chúng ta càng phải luôn cầu nguyện cho những người qua đời bằng một lời kinh, xin lễ cho họ vì chưng, Thánh Gioan Kim Khẩu dạy: Chúng ta hãy giúp họ và hãy nhớ đến họ. Nếu các con của ông Gióp đã được thanh luyện nhờ việc hiến lễ của cha (G 1,5), tại sao chúng ta còn nghi ngờ là những lễ tế của chúng dâng lên Thiên Chúa, để cầu cho người quá cố, lại không đem đến cho họ một phần an ủi nào? Đừng do dự giúp đỡ và cầu nguyện cho những người đã qua đời". Thật ra, cầu nguyện, xin lễ, thắp hương không phải để cầu cho người “chết”. Nếu chết là hết đời, hết chuyện thì cầu nguyện làm gì và ích lợi gì? Nếu có nhiều người nói chết nhưng thực tế họ vẫn thắp hương, thờ lạy trước di ảnh hay mộ mả vì họ tin rằng chết không phải là hết mà có một đời sống khác, gọi là kiếp sau. Cụ thể, nhà thờ Nguyễn Công Trứ viết: “Ngồi buồn mà trách ông xanh. Khi vui muốn khóc, buồn tênh lại cười. Kiếp sau xin chớ làm người. Làm cây thông đứng giữa trời mà reo. Còn nhà thơ Nguyễn Trọng Trí, bút danh là Hàn Mạc Tử với bài hát Hàn Mạc Tử ca rằng: “Đường lên dốc đá nhớ xưa hai người đã một lần đến. Tình yêu vừa chớm xót xa cho chàng cuộc sống phế nhân. Tiếc thay cho thân trai, một nửa đời chưa qua hết. Trách thay cho tơ duyên chưa thắm nồng đã vội tan. Hồn ngất ngư điên cuồng cho trời đất cũng tang thương, mà khổ đau niềm riêng. Hàn Mạc Tử xuôi về quê cũ, giấu thân nơi nhà hoang. Mộng Cầm hỡi thôi đừng thương tiếc, tủi cho nhau mà thôi. Tình đã lỡ xin một câu hứa, kiếp sau ta trọn đôi. Còn gì nữa thân tàn xin để một mình mình đơn côi”.
Hay là câu chuyện có thật về “Đồi thông hai mộ” xảy ra vào năm 1956 kể rằng Anh Vũ Minh Tâm quê ở Tiền giang lên Đà Lạt học trường Võ Bị quốc gia, nay là Học viện lục quân Đà lạt, anh Tâm đem lòng yêu Cô Thảo, Cô là người gốc Huế nhưng cô mồ côi không cha mẹ và được các Sơ đà lạt nuôi ăn học. Cô là giáo viên dạy văn của Trường bùi thị Xuân đà lạt. Hai người yêu nhau tha thiết nhưng gia đình anh tâm lên thấy Cô Thảo là Đạo Công giáo, nhà nghèo mồ côi trong khi đó, Anh Tâm là Đạo Phật, nhà giàu có, nhà con một nên cha mẹ anh Tâm không cho yêu cô Thảo nữa, ép anh Tâm về quê lấy vợ để nối dõi tông đường và có “môn đăng hộ đối”. Trên Đà lạt nghe tin anh Tâm cưới vợ và  nghĩ anh đã phụ tình rồi nên Cô buồn quá cô nhảy cái hồ bên đường cô tự tử và chết. Hồ đó ngày xưa có tên gọi là Hồ Sương Mai. Và trước khi nhảy cô để lại bức tâm thư cô nhờ người đời nếu ai vớt được xác cô thì cho cô nằm trên đồi bên hồ Sương Mai để có nhớ về mối tình đầu của cô. Cô là giáo viên dạy văn nên cô cắt nửa tà áo dài ghi hai câu thơ để cho Anh Tâm hai câu thơ: “Tà áo trắng màu tình yêu chết, chuyện chúng mình xin trả hết cho nhau”. Anh Tâm dưới nhà cưới vợ trả hiếu cho cha mẹ xong thì trốn lên Đà lạt và khi lên đến Đà lạt thì biết người yêu tự tử chết rồi. Anh buồn quá không học nữa nên ghi tên tình nguyện ra trận, ra trận được vài tháng anh bị thương nặng, người ta đưa anh về nhà thương Cộng hòa để chữa trị vết thương anh không chịu, anh xin về lại trường Võ Bị để nếu có mệnh hệ gì thì anh được nằm ở cạnh mộ cô thảo như khi còn sống. Và đúng như thế vài tháng vết thương quá nặng anh biết mình sẽ chết anh nhờ bạn anh chôn xác anh bên mộ cô tháo và làm tấm bia đôi nối liền hai ngô mộ lại với nhau như muốn nói sống chết bên nhau mãi mãi. Anh cũng dặn phải khắc lên tấm bia hai câu thơ mà anh để lại trong nhật ký: “Nước biết non xanh dù biến đổi. Mối tình chung thủy thảo trong tâm. Chiều chưa xuống mà nắng vàng đã vội tắt. Đêm chưa về mà cỏ đã đẫm sương”. Chôn chất được 3 ngày dơn vị báo tin về cho cha mẹ và vợ ở dưới quê. Cô vợ lên đọc những dòng thơ đem lòng ghen tức, đợi 3 năm Cô lên hốt mộ Anh Tâm về quê, từ đó đồi thông hai mộ chỉ còn một xác. Và từ đó Hồ Sương Mai đổi tên thành Hồ Than Thở, muốn than than thở cho chuyện tình hai số phận éo le. Và từ đó bài hát đồi thông hai mộ ra đời.
Một chiều rừng gió lộng, một chiều rừng nhớ chuyện bên đồi thông. Nàng năm ấy khi tuổi  vừa đôi chín, tâm hồn đang trắng trong. Như chim non khi ăn còn chưa no, khi co còn chưa ấm. Tuổi thơ ngây bao nhiêu chuyện mưa nắng nắng mưa lo một mình
Rồi nàng buồn thơ thẩn chẳng còn ngồi trang điểm qua màu phấn. Để phai úa đến tàn cả hương sắc tháng ngày luôn héo hon. Hoa không tươi khi hay nàng ít nói, chim muông ngừng tiếng hót. Trời không thương nên đêm đổ giông tố cướp đi cuộc đời nàng.
Đk: Sao người về đây để tìm nhưng thôi đã mất còn đâu. Ôi! Buồn làm sao, đồi thông xưa nay vắng bóng người yêu. Ôi! đời hợp tan, hợp rồi tan như mây kia gặp gió. Chàng tương tư bao năm về bên ấy vắng đi từ đấy!
Rồi mộ chàng đã được ở cạnh nàng như lời xưa thề ước. Nằm hiu hắt đến ngàn thu an giấc dưới mộ sâu đất khô. Qua bao năm rêu xanh phủ che kín âm u chẳng nhang khói. Trời xuôi chi trên cây còn lá úa lá xanh kia rụng rồi”.
Đó, chết đâu phải là hết, chết chỉ là thay đổi thôi, sự sống thay đổi chứ không mất đi. Vì vậy, giáo lý Hội Thánh Công giáo dạy phải kính nhớ người quá cố và dâng lời cầu nguyện cho họ, nhất là dâng Hy lễ Thánh Thể, để một khi đã được thanh luyện trong luyện ngục họ có thể được vinh phúc hưởng kiến Thiên Chúa.  Vì vậy, cầu nguyện cho những người đã khuất là một bổn phận không thể xao lãng của chúng ta, chúng ta phải có tinh thần hiệp thông giữa người sống và người chết trong đời này nên ta phải cầu nguyện cho họ. Bởi thế, không chỉ trong suốt tháng 11 này mà mọi ngày, Giáo Hội dâng lễ nài xin ơn tha thứ cứu độ của Chúa Giêsu cho những người đã qua để họ mau lên Thiên Đàng hạnh phúc thanh nhàn vì chưng họ là những người đã tin vào Chúa Giêsu đúng như Lời Chúa nói trong Tin Mừng hôm nay: “Chính Thầy là sự sống lại và là sự sống. Ai tin vào Thầy, thì dù đã chết, cũng sẽ được sống. Ai sống và tin vào Thầy, sẽ không bao giờ phải chết”.
Vậy, xin cho mỗi người chúng ta đừng bao giờ quên cầu nguyện cho những người đã qua đời vì chưng người ta nói rằng “Không nhớ đến những người đã qua đời là giết chết họ thêm một lần nữa”. Với tâm tình đó chúng ta đứng lên cầu nguyện cho Cha Đa Minh và những người đã qua đời...



Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét