NIỀM TIN VÀ HY VỌNG
Có người
hỏi tôi rằng thưa cha, chúng ta có được phép
bỏ tro người chết xuống hồ, sông hay biển? Tôi mới trả lời
rằng: việc chôn xác kẻ chết là một việc đạo đức được khuyến khích và tôn trọng
từ xưa đến nay trong Giáo Hội. Hơn nữa Giáo Hội coi việc đạo đức này được
đặc biệt tôn trọng vì niềm tin và hy vọng của chúng ta là “xác loài người ngày sau sống lại”
(Kinh Tin Kính), cho nên phải được chôn cất cho xứng đáng với niềm tin này. Và
từ Công Đông Vaticanô II (1962-65) đến nay, Giáo Hội lại cho phép
đốt xác nhưng phải tin rằng dù xác chết tan trong lòng đất hay tan thành
tro bụi khi đem thiêu, thì vẫn được quyền năng của Thiên Chúa cho
sống lại hiệp cùng linh hồn để vào Nước Trời hưởng hạnh phúc Thiên Đàng hay bị phạt trong hỏa
ngục trong ngày cánh chung (Mt 25, 31-46). Vì vậy, theo Giáo luật và Giáo lý
Hội Thánh Công giáo dạy rằng nếu hỏa táng người
chết, thì việc này không được làm trái với niềm tin của Giáo Hội về sự
sống lại của kẻ chết (GL, số 1176; SGLGHCG số 1684- 1690), nghĩa là phải
tin rằng dù xác kẻ chết đã ra tro bụi, thì vẫn được sống lại cùng với
linh hồn trong ngay sau hết như đã nói ở trên. Vì thế, tro của người hỏa
táng cũng phải được tôn kính như xác chôn ngoài nghĩa địa. Nghĩa là phải
cất giữ tro này ở nơi xứng đáng, hoặc ở tư gia hay trong nhà thờ
nào có nhận cất giữ tro của người hỏa táng. Nghĩa là không được
phép mang tro này ra rải ngoài sông, ao hồ hay biển cả, như những người không
có niềm tin vào sự sống lại của kẻ chết. Vì không tin, nên họ đã rải
tro của thân nhân họ ra sông, hồ hay biển cả, vì cho rằng con người là hư
không, chết là hết không hy vọng gì cả, nên thả tro ra sông, biển để nói
lên sự hư không này của thân phận con người. Ngược lại, vì người
Công Giáo tin xác loài người sẽ sống lại, nên xác chết phải được giữ gìn trong
nghĩa trang hay trong các hộp tro để cho con cháu, thân nhân viếng thăm và cầu
nguyện. Vậy nếu đem tro của người chết rải ra ngoài sông,
biển thì lấy đâu ra nơi cụ thể để viếng thăm đặc biệt trong tháng cầu cho
các linh hồn. Nghiêm trọng hơn nữa là nếu đem rải tro người chết ra sông,
hay biển thì vô tình cũng giống như những người không tin và hy vọng có sự sống
lại của thân xác.
Sinh ra đời, ai ai cũng có niềm tin và hy vọng. Nếu không
có niềm tin thì sẽ như chiếc tàu không có bánh lái. Con tàu không có bánh lái
thì biết đi về đâu. Niềm hy vọng cũng vậy, nếu tôi không có hy vọng thì tôi sẽ
là con người đau khổ và tội nhất. Vì có hy vọng mới có vươn lên, đi tới và
chiến thắng được mọi khó khăn, đau khổ. Cho nên, cựu Tổng thống Mỹ Obama đã nói
rằng: “Khi còn thở, nghĩa là ta còn hy vọng”; “Cách tốt nhất
để không cảm thấy vô vọng là đứng dậy và làm gì đó. Đừng đợi chuyện tốt đẹp xảy
ra với mình. Nếu bạn ra ngoài và khiến điều gì đó tốt đẹp xảy ra, bạn sẽ khiến
thế giới tràn đầy sự hy vọng, bản thân của bạn tràn đầy hy vọng”.
Hai môn đệ trong Tin Mừng hôm nay, một người tên là
Cơ-lê-ô-pát, người kia không có tên, người không có tên ấy cũng có thể là mỗi
người chúng ta. Hai ông ngay từ đầu có niềm tin vào Chúa Giêsu nhưng niềm tin
của các ông quá ơ hờ, niềm tin vào một Chúa sẽ đánh tan quân thù bằng vũ lực.
Cho nên, Chúa chết thê thảm mà không có một uy quyền nào cả nên mất niềm tin, dẫn
đến mất hy vọng. Vì vậy, các ông bỏ Chúa không tiếc sót. Những giữa lúc buồn
tủi, thất vọng ấy, Chúa Giêsu phục sinh xuất hiện. Lập tức ánh sáng rực
lên giữa màn đêm đen. Niềm vui rộn rã xoá tan u sầu. Ngọn lửa bừng lên sưởi ấm
những trái tim lạnh giá vì Chúa Giêsu đã đem đến cả một trời hy vọng. Chúng ta
thấy Chúa Giêsu đã nhen nhúm niềm hy vọng trong tâm hồn hai ông qua lời chứng
của những người bạn, các ông không tin, rồi qua Thánh Kinh tâm hồn các ông rộn
ràng niềm vui, trí các ông bừng sáng nhưng các ông vẫn chưa nhận ra Chúa phục
sinh. Cuối cùng, Chúa Giêsu bẻ bánh, chính qua cử chỉ bẻ bánh mà các ông nhận
ra Chúa Giêsu Phục Sinh. Niềm hy vọng không còn là hy vọng nữa, nhưng đã trở thành
hiện thực. Niềm tin không còn bán nghi, không còn hoang mang lo lắng và thấp
thỏm nữa vì các ông đã gặp được chính niềm hy vọng là Chúa đã sống lại thật
rồi.
Chúa
Giêsu bẻ bánh là nhắc lại cử chỉ khi lập phép Thánh Thể. Nhờ phép Thánh Thể
toàn bộ con người các ông đổi mới. Từ nay u buồn sẽ không còn, lo âu sợ sệt tan
biết mất, hy vọng đã vươn lên và và các quay trở lại Giêrusalem tiếp tục làm
môn đệ Chúa phục sinh. Cho nên, Thánh Thể Chúa chính là lương thực nuôi dưỡng
niềm hy vọng. Nhờ có Thánh Thể, đường xa trở nên gần. Nhờ có Thánh Thể, nỗi buồn
trở niềm vui. Vì nhờ có Thánh Thể, ta luôn được ở bên Chúa.
Đời
sống ta không thiếu những giờ phút khó khăn. Cuộc đời đầy thử thách nhiều lúc
đẩy ta vào hố thẳm tuyệt vọng. Ta hãy học bài học Chúa dạy các môn đệ trên
đường Emmau: Hãy biết nhìn các biến cố trong cuộc đời bằng con mắt đức tin.
Dưới ánh sáng đức tin, mọi đau khổ sẽ xuất hiện với một ý nghĩa tốt đẹp cho
cuộc đời. Ánh sáng đức tin sẽ thắp sáng niềm hy vọng. Hãy biết nghe, đọc và suy
gẫm Lời Chúa và hãy đến với Chúa Giêsu trong bí tích Thánh Thể để nhìn thấy
Chúa phục sinh luôn ở trong đời ta. Đặc biệt hãy kết hiệp với Chúa Giêsu trong
Thánh Thể vì Thánh Thể sẽ là lương thực nuôi dưỡng niềm hy vọng của ta và cảm
nếm trước hạnh phúc trên thiên đàng. Đường đời chúng ta cũng như quãng đường từ
Giêrusalem đi Emmau. Khi ta tin vào Chúa phục sinh luôn đồng hành với ta trong
cuộc sống qua Lời Chúa và Thánh Thể của Ngài, con đường là cuộc đời ta sẽ trở
nên gần gũi, bằng phẳng, vui tươi, hạnh phúc và sáng sủa dù ta đi trong bóng
đêm. Và khi ta tin vào Chúa phục sinh thì niềm hy vọng của ta nơi Chúa phục
sinh cũng sẽ trở thành hiện thực trong ngày sau hết như Lời Chúa nói: “Ta là sự sống lại và là sự sống, ai tin Ta, dầu có
chết cũng sẽ được sống. Và kẻ nào sống mà tin Ta, sẽ không chết bao giờ”.
Lạy
Chúa Giêsu Phục Sinh là niềm tin yêu và hy vọng của chúng con. Xin cho đường đời
chúng con đang trải qua luôn là con đường tin yêu và hy vọng vì luôn có Chúa phục
sinh luôn ở bên hôm qua hôm nay và mãi mãi. All.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét