Tại sao lại có sự phân biệt giữa các thú vật tinh
tuyền với thú vật ô uế?
Các nhà chú giải Kinh thánh không trả lời được. Có
lẽ tác giả của sách Lêvi đã lấy lại một tập tục có từ xa xưa mà không còn ai
nhớ rõ gốc gác. Cho dù lý do phân loại thế nào đi chăng nữa, đến khi bước sang
Tân ước, ta thấy có những cuộc cách mạng quan trọng. Chúa Giêsu đã xóa bỏ sự
phân biệt giữa các vật tinh tuyền và vật ô uế. Sự tinh tuyền và ô uế nằm ở
trong lòng của mình chứ thú vật chẳng có tội tình chi cả (Mc 7,15). Tuy nhiên,
xem ra các Kitô hữu tiên khởi (phần lớn gốc Do thái) không thể thay đổi não
trạng nhanh chóng, thí dụ như ở chương 10 của sách Tông đồ công vụ, ta thấy
thánh Phêrô còn sợ chưa dám ăn một vài thứ chim trời đã bị xếp vào hàng ô uế;
lật qua chương 15 (câu 20 và 29) ta còn thấy thánh Giacôbê muốn đòi buộc các
tín hữu tân tòng phải kiêng tránh vài thức ăn. Nhưng thánh Phaolô đi mạnh mẽ
hơn, nhất là vì ngài để ý tới dân ngoại hơn là tới dân Do thái. Thực vậy, thánh
Phaolô chấp nhận hoàn toàn giáo lý của Đức Kitô, theo đó chẳng có lương thực
nào là ô uế hết. Nhưng có một vấn đề được đặt ra là có được ăn đồ cúng hay
không? Trong thư gửi Rôma 14,14-16 thánh Phaolô đã phân biệt như thế này: tự
nó, đồ cúng hay đồ không cúng chẳng có gì khác nhau, cho nên các tín hữu không phải
kiêng cữ. Tuy nhiên, nếu có người non nớt bị vấp phạm vì việc người tín hữu ăn
đồ cúng, thì mình phải tránh. Nói khác đi, mình kiêng ăn đồ cúng không phải tại
vì nó là đồ ô uế nhưng mà mình phải tránh gây gương xấu cho người anh em mình;
đây là một bổn phận thuộc giới răn bác ái yêu thương.
Như vậy, thánh Phaolô khuyến khích chúng ta cứ tha
hồ ăn uống, phải không?
Thánh Phaolô không bao giờ xúi các tín hữu ăn uống
say sưa; trái lại, ngài đã hơn một lần khiển trách những người lấy cái bụng làm
chúa. Thánh Phaolô chỉ muốn huấn luyện lương tâm của các tín hữu, hãy tìm hiểu
cái lý do của các luật lệ, chứ không phải chỉ giữ luật lệ cách máy móc. Tất cả
các lương thực đều tốt bởi vì do Chúa dựng nên cho con người. Chúng ta hãy
hưởng dụng để ngợi khen Ngài. Việc ăn uống có thể trở thành cơ hội để chúc tụng
tạ ơn Chúa như chúng ta đọc thấy ở thư gửi Rôma 14,6. Tuy nhiên, cần có chừng
mực. Hơn thế nữa, thánh Phaolô khuyến khích các tín hữu hãy tiến thêm một bước
nữa, biết hy sinh cả những cái gì được phép làm: việc kiêng cữ những điều tốt
nằm trong chương trình thao luyện tinh thần giống như các lực sĩ tập luyện ở
thao trường (1Cr 9,27), nhất là để hoạ theo gương của Đức Kitô chịu thụ nạn
trên thập giá vì yêu thương chúng ta.
Nhưng nếu đã muốn kiêng khem lương thực thì kiêng
hết các món, chứ sao lại chỉ kiêng thịt?
Như tôi đã nói ở đầu, trong Việt ngữ, vì đã quá quen
với thành ngữ “ăn chay kiêng thịt” cho nên chúng ta chỉ giới hạn sự kiêng vào
chuyện ăn thịt. Vấn đề kiêng cữ bao hàm việc kiềm chế hết những gì đem lại thỏa
mãn thích thú, nhằm giúp cho ý chí chế ngự được bản năng. Theo một vài sử gia,
trong những thế kỷ đầu tiên, Giáo hội phải mệt với những phe khắc khổ hơn là
với phe phóng túng. Phe khắc khổ đòi Giáo hội phải ra luật buộc tất cả các tín
hữu phải giữ chay. Nhưng mà Giáo hội đâu có thể bắt hết mọi người phải trở
thành nhà khổ tu được. Mặt khác, trong số các vị khổ tu thời đó, không thiếu
những người chịu ảnh hưởng của thuyết ngộ giáo, coi xác thịt và hôn nhân là tội
lỗi. Dù sao, việc khổ chế vào những thế kỷ đầu hoàn toàn mang tính cách tự
nguyện. Nếu có luật lệ thì cũng chỉ giới hạn cho từng địa phương chứ không bao
trùm toàn thể Giáo hội. Việc kiêng khem tuyệt đối thường được dành cho ngày thứ
6 tuần thánh, rồi dần dần kéo dài ra các ngày thứ 6 hằng tuần. Nhưng mà dần dần
kỷ luật kiêng khem tuyệt đối (chay ăn) được gia giảm bởi vì nhiều tín hữu phải
làm việc lao động nặng nhọc, cần ăn uống để lấy sức. Mức độ châm chế được thay
đổi tùy vùng tùy nơi. Bên Trung đông, người ta kiêng cả sữa, bơ, trứng; nhưng
mà bên Tây phương, người ta chỉ đòi kiêng thịt. Từ thời Trung cổ, sự khổ chế tự
nguyện biến thành khổ chế bắt buộc, nghĩa là trở thành luật buộc. Ngoài ra việc
chay tịnh cũng là một hình phạt đền tội dành cho những hối nhân. Việc soạn thảo
một bản văn pháp lý đòi hỏi phải xác định tỉ mỉ các chi tiết của nghĩa vụ. Hậu
quả là người ta trở lại với não trạng của các luật sĩ vào thời Chúa Giêsu, với
đủ thứ vấn nạn được nêu lên: luật kiêng thịt buộc phải kiêng những thứ gì? Có
phải kiêng mỡ heo, kiêng sữa bò, tiết canh hay không? Các giống động vật nào
phải kiêng: máu nóng hay máu lạnh? thú vật trên bộ hay là dưới nước? Ngan,
ngỗng, vịt, lươn, rùa, sò ốc nhái có phải kiêng không? Các chuyên gia về luân
lý tha hồ mà nghiên cứu tranh luận về các loại thịt. Tiếc rằng người ta đã mất
đi cái động lực của nó là tinh thần khổ chế lúc đầu. Vì thế có cảnh ngược đời
là có người mong tới ngày thứ 6 để có dịp đi ăn ở nhà hàng thủy sản thập cẩm.
Đối lại là cái cảnh chảy nước mắt của bao dân nghèo phải chi tiền nhiều hơn vào
ngày thứ 6, khi mà cá mắc hơn thịt.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét