Trang

Thứ Ba, 12 tháng 11, 2013

GIẢI ĐÁP THẮC MẮC TÍN LÝ VÀ LUÂN LÝ - TUẦN XIX



Thưa Cha, sau khi chết, Chúa đi đâu, và làm gì…?
Trong Kinh Tin Kính các Thánh Tông Đồ, chúng ta tuyên xưng rõ ràng rằng “Tôi tin kính Đức Chúa GiêSu Kitô là con một Đức Chúa Cha cùng là Chúa chúng tôi; bởi phép Đức Chúa Thánh Thần mà người xuống thai, sinh bởi Bà Maria đồng trinh; chịu nạn đời quan Phong-xi-ô Phi-la-tô, chịu đóng đanh trên cây Thánh Giá, chết và táng xác, xuống ngục tổ tông, ngày thứ ba bởi trong kẻ chết sống lại; lên trời ngự bên hữu Đức Chúa Cha phép tắc vô cùng; ngày sau bởi trời lại xuống phán xét kẻ sống và kẻ chết"
Để hiểu rõ hơn nữa, chúng ta cùng nhau đọc lại Giáo Lý Hội Thánh dạy việc sau khi chết, Chúa Giêsu đi đâu làm gì nhé!
Giáo lý Hội Thánh Công Giáo dạy:

          Đức Giê-su đã phải nếm sự chết, là để cho mọi người được cứu độ, nhờ ơn Thiên Chúa” (Dt 2,9). Trong ý định cứu độ, Thiên Chúa đã an bài cho Chúa Con không những “chết vì tội lỗi chúng ta” (1Cr 15,3), nhưng còn phải “nếm sự chết”, nghĩa là trải qua cái chết, trạng thái hồn và xác tách rời nhau, từ lúc Người tắt thở trên thập giá cho đến khi sống lại. “Đức Ki-tô trải qua cái chết” là mầu nhiệm trong việc Người được mai táng và xuống ngục tổ tông. Đó là mầu nhiệm được tưởng nhớ vào ngày Thứ Bảy Tuần Thánh: Đức Ki-tô nghỉ yên trong mồ (x.Ga 19,42) nói lên sự yên nghỉ ngày sa-bát vĩ đại của Thiên Chúa (x.Dt 4,4-9), sau khi hoàn tất việc cứu độ loài người (x.Ga 19,30) và đem lại bình an cho toàn thể vũ trụ (x.Cl 1,18-20)” (số 624).
Thời gian Đức Ki-tô nghỉ yên trong mồ thật sự nối kết tình trạng có thể chịu đau khổ trước phục sinh với tình trạng vinh hiển hiện tại của Đấng Phục Sinh. Chính Đấng “hằng sống” có thể nói: “Ta đã chết, và nay Ta sống đến muôn thuở muôn đời” (Kh 1,18): Chúa Con đã để cho cái chết tách rời hồn khỏi xác, theo bản tính tự nhiên, nhưng Người đã kết hợp hồn với xác lại nhờ sự phục sinh, để ba ngày thân Người trở thành giao điểm của sự chết và sự sống bằng cách ngăn chặn sự tan rã tự nhiên của thân xác do sự chết và trở thành nguyên lý hợp nhất của các phần đã bị tách rời (T. Ghê-rô-ni-ô thành Nít-xê, sách giáo lý 16)” (số 625).
Vì “Đấng khơi nguồn sự sống” mà người ta đã giết chết (Cv 3,15) cũng là “Đấng hằng sống đã phục sinh” (Lc 24,5-6), nên Ngôi Vị Thần Linh của Con Thiên Chúa vẫn tiếp nhận hồn và xác của Người bị cái chết tách rời: Khi Đức Ki-tô chết, hồn đã lìa khỏi xác, nhưng ngôi vị duy nhất của Người không bị chia ra, vì ngay từ đầu nơi Ngôi Lời Nhập thể, xác và hồn hiện hữu ngang nhau; dù trong cái chết hồn xác tách rời nhau, nhưng vẫn ở với ngôi vị duy nhất của Ngôi Lời (T. Gio-an Da-mát 3,27)” (số 626).
Cái chết của Đức Ki-tô là cái chết thật sự, vì đã chấm dứt cuộc đời trần thế của Người. Nhưng bởi ngôi vị Chúa Con vẫn kết hợp với thân xác Người, nên thân xác ấy không trở thành một thi hài như trong những trường hợp khác, “vì lẽ cái chết không tài nào khống chế được Người mãi” (Cv 2,24). Do đó, quyền năng Thiên Chúa đã gìn giữ thân xác Người khỏi hư nát” (T. Tô-ma Aquino tổng luận thần học 3,51,3). Về Đức Ki-tô, người ta có thể nói: “Người đã bị khai trừ khỏi cõi nhân sinh” (Is 53,8), và cũng có thể nói: “Cả thân xác con nghỉ ngơi trong niềm hy vọng rằng Chúa chẳng đành bỏ mặc hồn con trong cõi âm ty; cũng không để vị thánh của Ngài phải hư nát” (Cv 2,26-27) (x.Tv 16,9-10). Việc Đức Giê-su sống lại vào “ngày thứ ba” (1 Cr 15,4; Lc 24,46) (x.Mt 12,40; Gn 2,11; Hs 6,2) minh chứng điều ấy, vì theo quan niệm của người xưa, việc hư nát thường xảy ra từ ngày thứ tư (x.Ga 11,39)” (số 627).
Thuở ban đầu Hội Thánh ban bí tích Thánh Tẩy bằng cách dìm thụ nhân xuống nước. Hành động này có ý nghĩa là người Ki-tô hữu chết cho tội lỗi phải chịu mai táng cùng với Đức Ki-tô để sống một đời sống mới: “Vì được dìm vào trong cái chết của Người, chúng ta cùng được mai táng với Đức Ki-tô. Bởi thế, cũng như Người đã được sống lại từ cõi chết nhờ quyền năng vinh hiển của Chúa Cha, thì chúng ta cũng được sống một đời sống mới” (Rm 6,4) (x.Cl 2,12; Ep.5,26)” (số 628).
Đức Giê-su đã xuống tận các vùng sâu thẳm dưới đất. Đấng đã xuống, cũng chính là Đấng đã lên” (Ep 4,9-10). Kinh Tin Kính các tông đồ tuyên xưng, trong cùng một tín điều, việc Đức Ki-tô xuống ngục tổ tông và việc ngày thứ ba Người bởi trong kẻ chết mà sống lại. Vì trong cuộc Vượt Qua của Người, chính từ trong lòng cái chết mà Người làm vọt lên sự sống: Đức Ki-tô, Con yêu quí của Cha, Đấng đã từ cõi chết sống lại, đem ánh sáng thanh bình chiếu soi muôn dân. Người là Đấng hằng sống hiển trị muôn đời. A-men (MR. Sách lễ: bài công bố Tin Mừng Phục Sinh-đêm vọng P.S)” (số 631).
Nhiều đoạn Tân Ước khẳng định Đức Giê-su “chỗi dậy từ cõi chết” (Cv 3,15; Rm 8,11; 1Cr 15,20), tức là, trước khi sống lại, Người đã ở nơi kẻ chết (x.Dt 13,20). Khi rao giảng việc Đức Giê-su xuống ngục tổ tông, các tông đồ muốn nói là: Đức Giê-su đã chết như mọi người, và linh hồn Người xuống cõi âm, nhưng xuống với tư cách là Đấng Cứu Độ, để loan báo Tin Mừng cho các vong linh bị giam cầm nơi đó (x.1Pr 3,18-19)” (số 632).
Kinh Thánh gọi nơi trú ngụ của các vong linh là âm phủ (Shéol) hoặc âm ty (Hadés) (x. Pl 2,l0: Cv 2,24; Kh l,l8; Ep 4,9). Trước khi Đấng cứu chuộc đến, mọi người đã chết, dù lành haydữ ( x. Tv 89,49;Is 28,19; Ed 32,l7-32), đều phải vào chốn này. Ở đó, họ không được nhìn thấy Thiên Chúa (x. Tv 6,6;88,ll-l3) và đang chờ đợi Đấng Cứu Chuộc. Số phận của họ không giống hệt nhau, như Đức Giê-su cho thấy qua dụ ngôn La-da-rô nghèo khổ được rước vào “lòng Áp-ra-ham” (x. Lc.l6,22-26). “Khi xuống ngục tổ tông, Đức Giê-su giải thoát chính những tâm hồn lành thánh “trong lòng Áp-ra-ham” ấy đang chờ đợi Đấng giải thoát” (x .Giáo lý Rôma l.6,9). Đức Giê-su xuống ngục tổ tông không phải để giải thoát những kẻ bị án phạt đời đời hoặc để phá hủy địa ngục đọa đày (x. DS 1011;1077), nhưng để giải thoát những người công chính đã chết trước khi Người đến (x. Cđ Tô-lê-đô IV năm 625: DS 485; Mt 27,52-53)” (số 633).
Tin Mừng cũng được loan báo cho cả kẻ chết...” (1Pr 4,6). Việc Đức Giê-su xuống ngục tổ tông hoàn tất cách sung mãn việc rao giảng Tin Mừng cứu độ. Đây là chặng cuối cùng trong sứ mạng Mê-si-a của Đức Giê-su, tuy diễn ra trong một thời gian ngắn ngủi, nhưng có ý nghĩa vô cùng lớn lao là công cuộc cứu độ được mở rộng cho mọi người thuộc mọi thời và mọi nơi. Như vậy, tất cả những kẻ được cứu độ đều do Đức Ki-tô” (số 634).
Như thế Đức Ki-tô đã xuống âm phủ (x. Mt l2,40; Rm 10,7; Ep 4,9) để “kẻ chết nghe tiếng Con Thiên Chúa và ai nghe thì được sống” (Ga 5,25). Đức Giê-su, “Đấng khơi nguồn sự sống” (Cv 3,15), đã “nhờ cái chết của Người, tiêu diệt tên lãnh chúa gây ra sự chết, tức là ma quỷ, và đã giải thoát những ai vì sợ chết mà suốt đời sống trong tình trạng nô lệ” (Dt 2,14,l5). Từ nay, Đức Ki-tô Phục Sinh “nắm giữ chìa khóa của sự chết và âm phủ” (Kh 1,18) và “khi vừa nghe Danh Thánh Giê-su, cả trên trời dưới đất và trong nơi âm phủ, muôn vật phải bái quỳ” (Pl 2,10): Hôm nay mặt đất hoàn toàn thinh lặng, hoàn toàn thinh lặng và hoàn toàn cô quạnh. Hoàn toàn thinh lặng vì Đức Vua an giấc. Trái đất run rẩy rồi yên tĩnh lại, vì Thiên Chúa đang ngủ trong xác phàm và Người đi đánh thức những kẻ đang ngủ từ bao đời ... Người đi tìm nguyên tổ A-đam như tìm con chiên lạc. Người muốn thăm viếng tất cả những ai đang ngồi trong tối tăm và trong bóng sự chết. Vừa là Thiên Chúa, vừa là con cháu của nguyên tổ, Người đi giải thoát A-đam và E-và đang đau khổ trong gông cùm xiềng xích ... “Ta là Chúa của ngươi, nhưng vì ngươi, Ta đã trở thành con của ngươi. Hỡi người ngủ mê, hãy chổi dậy! vì Ta dựng nên ngươi không phải để cho ngươi ở lại đây trong gông cùm âm phủ. Hãy chỗi dậy từ cõi chết, vì Ta là sự sống của những kẻ đã chết (Bài giảng cổ vào thứ bảy tuần thánh)” (số 635).

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét