HÌNH ẢNH
1. Cựu Ước
Thiên Chúa phán: "Chúng
ta hãy làm ra con người theo hình ảnh chúng ta, giống như chúng ta, để con
người làm bá chủ cá biển, chim trời, gia súc, dã thú, tất cả mặt đất và mọi
giống vật bò dưới đất" (St 1,26). Như vậy, câu này có hai từ: theo
hình ảnh (image) và giống hệt như Chúa (similarity). Các nhà chú giải Thánh
Kinh cho rằng hai từ này khác nghĩa nhau. Thứ nhất, "hình ảnh" (tiếng
Do thái "Selem") ám chỉ sự tương đồng theo nghĩa vật chất, chẳng hạn
như đúc hình tượng. Còn từ "giống hệt" (tiếng Do thái
"demut") có tính cách trừu tượng. Cho nên, khi nói con người giống
hình ảnh Thiên Chúa có nghĩa rằng con người được thông phần vào một vài ưu phẩm
của Thiên Chúa: khôn ngoan, tự do, bất tử, có quyền cai quản vũ trụ, và hiệp
thông với Thiên Chúa, nhưng con người không thể nào bình đẳng ngang hàng với
Thiên Chúa được.
2. Tân Ước
Con người là hình ảnh của Thiên
Chúa ở đặc điểm:
-
Hoàn
Thiện: “Anh em hãy nên hoàn thiện,
như Cha anh em trên trời là Đấng hoàn thiện” (Mt 5,48).
-
Kính
trọng tha nhân: “Khi Con Người đến
trong vinh quang của Người, có tất cả các thiên sứ theo hầu, bấy giờ Người sẽ
ngự lên ngai vinh hiển của Người. Các dân thiên hạ sẽ được tập hợp trước mặt
Người, và Người sẽ tách biệt họ với nhau, như mục tử tách biệt chiên với dê.
Người sẽ cho chiên đứng bên phải Người, còn dê ở bên trái. Bấy giờ Đức Vua sẽ
phán cùng những người ở bên phải rằng: "Nào những kẻ Cha Ta chúc phúc, hãy
đến thừa hưởng Vương Quốc dọn sẵn cho các ngươi ngay từ thuở tạo thiên lập địa.
Vì xưa Ta đói, các ngươi đã cho ăn; Ta khát, các ngươi đã cho uống; Ta là khách
lạ, các ngươi đã tiếp rước; Ta trần truồng, các ngươi đã cho mặc; Ta đau yếu,
các ngươi đã thăm viếng; Ta ngồi tù, các ngươi đến hỏi han." Bấy
giờ những người công chính sẽ thưa rằng: "Lạy Chúa, có bao giờ chúng con
đã thấy Chúa đói mà cho ăn, khát mà cho uống; có bao giờ đã thấy Chúa là khách
lạ mà tiếp rước; hoặc trần truồng mà cho mặc? Có bao giờ chúng con đã thấy Chúa
đau yếu hoặc ngồi tù, mà đến hỏi han đâu? " Đức Vua sẽ đáp lại rằng:
"Ta bảo thật các ngươi: mỗi lần các ngươi làm như thế cho một trong những
anh em bé nhỏ nhất của Ta đây, là các ngươi đã làm cho chính Ta vậy"
(Mt 25,31-40).
-
Yêu
thương tha nhân: “Nếu ai nói:
"Tôi yêu mến Thiên Chúa" mà lại ghét anh em mình, người ấy là kẻ nói
dối; vì ai không yêu thương người anh em mà họ trông thấy, thì không thể yêu
mến Thiên Chúa mà họ không trông thấy” (1Ga 4,20).
Tóm lại, dù con người là hình ảnh bất
toàn nhưng khôn ngoan mới là hình ảnh sự tuyệt hảo của Thiên Chúa. Do đó khôn
ngoan là tấm gương tinh tuyền phản chiếu ánh sáng vĩnh cửu đồng thời phản ánh
mọi hoạt động của Thiên Chúa (Kn 7,26).
ĐỨC GIÊ-SU KITÔ, HÌNH ẢNH CỦA
THIÊN CHÚA
Thiên Chúa là Đấng vô hình không ai có thể
thấy Ngài được, nhưng Ngài đã tỏ mình đầy đủ nhất qua hình ảnh TUYỆT HẢO là ĐỨC
GIÊSU KITÔ Con Ngài. Đức Giê-su Kitô vốn là Thiên Chúa đã xuống thế làm người
giống chúng ta mọi đàng trừ tội lỗi (Pl 2,6-7). Cho nên, giữa Chúa Giêsu và Cha
Ngài có một liên hệ mật thiết và giống nhau trong Lời và hành động (Ga 5,19);
trong đạo lý (Ga 7,16); trong sự Hằng Hữu (Ga 8,18); và trong sự sống đời đời
(Ga 12,49).
Vì vậy, Giáo lý Hội
Thánh Công Giáo tuyên tín rằng “Chúng tôi tin và tuyên xưng rằng :
Đức Giê-su Na-da-rét, dưới thời Vua Hê-rô-đê và Hoàng đế Xê-da-rê Âu-gut-tô,
sinh làm người Do Thái, con một người con gái của Ít-ra-en, tại Bê-lem, làm
nghề thợ mộc, chết trên thập giá tại Giê-ru-sa-lem, thời tổng trấn Phông-xi-ô
Phi-la-tô, dưới triều Hoàng đế Ti-bê-ri-ô. Người là Con Vĩnh Cửu của Thiên
Chúa, “bởi Thiên Chúa mà đến” (Ga l3,3), “Đấng từ Trời xuống” (Ga 3,l3; 6,33),
“đến trong xác phàm” (l Ga 4,2); vì ‘Ngôi Lời đã làm người và ở giữa chúng ta,
chúng ta đã được nhìn thấy Vinh Quang của Người, vinh quang mà Chúa Cha ban cho
Người là Con Một đầy tràn ân sủng và chân lý (...). Từ nguồn sung mãn của
Người, tất cả chúng ta đã lãnh nhận hết ơn này đến ơn khác’ (Ga l,l4.l6)”, (số 423).
“Đức
Giê-su Ki-tô là Thiên Chúa thật và là người thật, trong một ngôi vị Thiên Chúa
duy nhất. Vì vậy Người là Đấng Trung Gian duy nhất giữa Thiên Chúa và loài
người” (GLHTCG, số 480) đồng thời là hình ảnh của Thiên Chúa (2 Cr 4,4).
Cho nên, ai thấy Đức Giêsu Kitô là thấy Chúa Cha (Ga 14,9) và cũng chỉ có Chúa
Giêsu Kitô mới mạc khải Cha mình là Thiên Chúa vô hình cho chúng ta thấy và
biết mà thôi (Ga 5,19-24).
HOẢ NGỤC
Nơi trừng phạt đời đời hay tình trạng bị
phạt vĩnh viễn của những thiên thần đã sa ngã và những người đã chết trong khi
cố tình xa lìa tình yêu Chúa. Con người chết trong tội trọng mà không thống hối
và không đón nhận tình yêu thương xót của Thiên Chúa, có nghĩa là con người ấy
bị tách biệt khỏi Ngài đến muôn đời. Vì sự tự do, con người ấy tự loại mình cách
vĩnh viên khỏi sự hiệp thông với Thiên Chúa và các Thánh. Tình trạng này được
gọi bằng từ “hỏa ngục” (x. Sách Giáo lý Hội Thánh Công Giáo, số 1033).
Thánh kinh và Hội Thánh khẳng định có hỏa
ngục và tính vĩnh cửa của hỏa ngục. Linh hồn của những kẻ chết trong tình trạng
tội lỗi, sau khi chết, sẽ xuống chịu hình phạt hỏa ngục, chịu “lửu muôn đời”
(GLHTCG, số 1035).
Cho nên, có hai hình phạt trong hoả ngục:
Thứ nhất, hình phạt xa Chúa nghĩa là không được hưởng kiến nhan thánh Chúa, tức
muôn đời tách biệt khỏi Thiên Chúa, Đấng mà chỉ nơi Ngài, con người mới có thể
có sự sống và sự vinh phúc, đó là mục đích của việc Thiên Chúa tạo dựng con
người và là điều con người luôn khát vọng.
Thứ hai, hình phạt giác quan đó là đau khổ cả thân xác lẫn linh hồn do lửa
hỏa ngục không hề tắt. Hình phạt này cũng có giá trị vĩnh viễn, như Đức Kitô đã
khẳng định: “Con Người sẽ sai các
thiên thần của Người tập trung mọi kẻ làm gương mù gương xấu và mọi kẻ làm điều
gian ác, mà tống ra khỏi Nước của Người, rồi quăng chúng vào lò lửa; ở đó,
chúng sẽ phải khóc lóc nghiến răng” (Mt 13,41-42).
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét