GIAO ƯỚC
Theo nguyên ngữ Thánh Kinh, “berith”,
"giao ước" có nghĩa là "sự ràng buộc". Vậy, giao
ước là một sự thỏa thuận giữa hai bên, được thiết lập và đóng ấn bằng một lễ
nghi công khai và long trọng. Trong giao ước, mỗi bên được hưởng một số quyền lợi
đồng thời có bổn phận thi hành một số nghĩa vụ có tính cách hỗ tương. Giao ước bao gồm bốn yếu tố sau đây:
1. Các bên dự phần trong giao ước: Có thể là giữa các cá nhân với
nhau, chẳng hạn, Áp-ra-ham lập giao ước với Vua A-vi-me-léc (St 21,27). Có thể
là giữa các dân tộc với nhau như dân Ít-ra-en lập giao ước với dân Ghíp-ôn (Gs 9,3-16). Có thể là giữa Thiên
Chúa với một cá nhân, chẳng hạn, Thiên Chúa lập giao ước với ông No-ê (St 6,18).
Có thể là giữa Thiên Chúa với một dân tộc như dân Ít-ra-en (Xh 34,27). Và có thể là giữa Thiên
Chúa với tất cả những ai muốn được cứu độ đó là Giao Ước Mới. Một giao ước hoàn
mỹ nhờ phẩm tính tuyệt hảo của người làm trung gian đó là Chúa Giêsu và chính máu
Chúa Giêsu đã đổ ra để cứu chuộc mọi người (Gr 31:31; Lc 22,20; Dt 9,11tt).
2. Các điều khoản trong giao ước: Trong mỗi giao ước đều có các điều
kiện, tức là các bổn phận mà mỗi bên kết ước phải thi hành. Đối với loài người,
trước hết phải phụng thờ và kính mến một mình Thiên Chúa (Xh 20,3tt; Đnl 5,7),
sau đó phải tuân giữ tất các điều Chúa dạy (Xh 19,7tt). Đối với Thiên Chúa, Ngài luôn yêu thương và
chúc phúc dồi dào một trật bảo đảm được sống cho những ai vâng nghe, tuân giữ và
thi hành Lời Ngài (Xh 23,20-33; 1Ga 2,5). Ngược lại ai chối bỏ Lời Chúa, họ tự
chuốc lấy lời chúc dữ (Xh 23,20-33; Đnl 28; Lv 26).
3. Ký kết giao ước: Sách Xuất hành lưu lại hai nghi lễ ký kết khác nhau. Trong nghi lễ thứ
nhất, Môsê, A-ha-ron và các kỳ mục Ít-ra-en dùng bữa ăn thánh trước sự hiện diện của
Thiên Chúa (Xh 2,1.9tt). Nghi lễ thứ hai có tính phụng vụ trong các thánh điện:
“Ông Mô-sê xuống thuật
lại cho dân mọi lời của ĐỨC CHÚA và mọi điều luật. Toàn dân đồng thanh đáp:
"Mọi lời ĐỨC CHÚA đã phán, chúng tôi sẽ thi hành." Ông Mô-sê chép lại
mọi lời của ĐỨC CHÚA. Sáng hôm sau, ông dậy sớm, lập một bàn thờ dưới chân núi
và dựng mười hai trụ đá cho mười hai chi tộc Ít-ra-en. Rồi ông sai các thanh
niên trong dân Ít-ra-en dâng những lễ toàn thiêu, và ngả bò làm hy lễ kỳ an tế
ĐỨC CHÚA. Ông Mô-sê lấy một nửa phần máu, đổ vào những cái chậu, còn nửa kia
thì rảy lên bàn thờ. Ông lấy cuốn sách giao ước đọc cho dân nghe. Họ thưa:
"Tất cả những gì ĐỨC CHÚA đã phán, chúng tôi sẽ thi hành và tuân
theo." Bấy giờ, ông Mô-sê lấy máu rảy lên dân và nói: "Đây là máu
giao ước ĐỨC CHÚA đã lập với anh em, dựa trên những lời này"
(Xh 24,3-8).
4. Sự bảo đảm cho giao ước: Giao ước nào cũng phải có sự bảo
đảm cho sự thi hành và hoàn thành. Đối với loài người thì có thể là một lễ vật
như trường hợp Áp-ra-ham dâng chiên và bò cho Vua A-vi-me-léc
(St 21,27); hoặc dựng một
đống đá như Gia-cóp kết ước với La-ban (St 31,48); hoặc nhân danh Thiên Chúa như trong
trường hợp Giô-na-than kết ước cùng Đa-vít (ISm 20,8)... Riêng Thiên Chúa, Ngài
lấy chính danh Ngài để thề (St 22,16; Đnl 29,12; Dt 6,13), dùng máu của bò tơ
để bảo đảm cho Giao Ước Cũ Ngài thiết lập với dân Ít-ra-en (Xh 24,5-8)
và cuối cùng Ngài dùng chính máu của Con Một là Chúa Giêsu Kitô để làm bảo đảm
cho Giao Ước Mới (Gr 31,31; Lc 22,20).
GIAO ƯỚC MỚI là sự thỏa thuận thánh thiện do Thiên Chúa
đưa ra nơi bản thân Đức Kitô, là sự hoàn tất Giao ước cũ mà Đức Chúa đã ký kết
với dân Ít-ra-en, là giao ước vĩnh cửu sẽ hoàn thành viên mãn trên trời, là lời
hứa của Thiên Chúa sẽ ban muôn vàn ân sủng mà Đức Kitô đã báo trước trong Bài
giảng trên núi và bữa Tiệc ly, cho nhưng ai luôn trung thành tuân giữ và thi
hành Lời Người. “Tất cả anh em hãy
uống chén này, vì đây là máu Thầy, máu Giao Ước, đổ ra cho muôn
người được tha tội”(Mt 26,28). “Do đó, Đức Giêsu đã trở nên Đấng bảo đảm cho
một giao ước tốt đẹp hơn” (Dt 7,22).
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét