Trang

Thứ Sáu, 11 tháng 10, 2013

TỪ VỰNG THÁNH KINH - VẦN D và Đ



DÂN THIÊN CHÚA

1. Cựu Ước
Như tất cả các dân tộc khác, dân Ít-ra-en cũng có lịch sử nhân loại rõ ràng. Nhưng, dân Ít-ra-en được Thiên Chúa chọn và kêu gọi làm dân riêng của Ngài. Vì thế, Thiên Chúa đã thiết lập với họ một giao ước, giáo huấn họ dần dần bằng cách tỏ chính mình và ý định mình qua lịch sử dân ấy, và Ngài đã thánh hóa họ để dành riêng cho mình.

"Đức Chúa phán: Phần Ta, đây là giao ước của Ta với ngươi: ngươi sẽ làm cha của vô số dân tộc.  Người ta sẽ không còn gọi tên ngươi là Áp-ram nữa, nhưng là Áp-ra-ham, vì Ta đặt ngươi làm cha của vô số dân tộc. Ta sẽ cho ngươi sinh ra nhiều, thật nhiều: Ta sẽ làm cho ngươi thành những dân tộc, và vua chúa sẽ phát xuất từ ngươi. Ta sẽ lập giao ước của Ta giữa Ta với ngươi và với dòng dõi ngươi sau này, từ thế hệ này qua thế hệ khác. Đây sẽ là giao ước vĩnh cửu, do đó Ta sẽ là Thiên Chúa của ngươi và của dòng dõi ngươi sau này. Ta sẽ ban cho ngươi và dòng dõi ngươi sau này miền đất ngươi đang trú ngụ, tức là tất cả đất Ca-na-an, làm sở hữu vĩnh viễn; và Ta sẽ là Thiên Chúa của chúng. Thiên Chúa phán với ông Áp-ra-ham: "Phần ngươi, hãy giữ giao ước của Ta, ngươi và dòng dõi ngươi sau này, từ thế hệ này qua thế hệ khác. Đây là giao ước của Ta mà các ngươi phải giữ, giao ước giữa Ta với các ngươi, với dòng dõi ngươi sau này: mọi đàn ông con trai của các ngươi sẽ phải chịu cắt bì” (St 17,4-10). Như vậy, bất cứ ai sau khi đã cắt bì đều được gia nhập dân Thiên Chúa đồng thời dự phần vào tình liên giữa Thiên Chúa và con người.

Hai bên tiến hành cử hành nghi thức ký kết giao ước: “Đức Chúa phán với ông Áp-ra-ham: "Đi kiếm cho Ta một con bò cái ba tuổi, một con dê cái ba tuổi, một con cừu đực ba tuổi, một chim gáy và một bồ câu non." Ông kiếm cho Người tất cả những con vật ấy, xẻ đôi ra, và đặt nửa này đối diện với nửa kia; còn chim thì ông không xẻ. Khi mặt trời đã lặn và màn đêm bao phủ, thì bỗng có một lò nghi ngút khói và một ngọn đuốc cháy rực đi qua giữa các con vật đã bị xẻ đôi. Hôm đó, ĐỨC CHÚA lập giao ước với ông Áp-ra-ham” (St 15,10.17-18).
Tóm lại, giao ước này là chứng thư khai sáng một quốc gia, đánh dấu từ nay đối với dân Ít-ra-en tất cả sẽ được xây dựng trên hai bình diện: bình diện lịch sử và bình diện đức tin. Giao ước này được mười hai chi tộc ký kết với Thiên Chúa và được đóng ấn trong máu của hy tế. Cho nên, từ nay Thiên Chúa sẽ trở thành Thiên Chúa của dân Ít-ra-en và ngược lại dân Ít-ra-en là dân của Thiên Chúa (x. Đnl 29,12; Lv 26,12…). Có nghĩa rằng từ nay dân Ít-ra-en, dân Thiên Chúa là dân tộc thánh được cung hiến cho Thiên Chúa và được tách riêng cho Ngài (Đnl 7,6), là của riêng Ngài (Xh 19,5), gia nghiệp của Ngài (Đnl 9,25). Dân Ít-ra-en là dân tộc trung gian để nhờ đó mối dây liên lạc được nối kết giữa Thiên Chúa và toàn thể nhân loại, để lời ca khen của toàn thể trái đất vang lên tới Chúa (Is 45,14tt) và để toàn thể các quốc gia cũng được dự phần vào sự chúc phúc của Thiên Chúa (St 12,3).

2. Tân Ước
Nhờ giao ước mới, được máu Đức Giêsu đóng ấn, Thiên Chúa tạo dựng một dân tộc mới để thực hiện đầy đủ lời Thánh Kinh: “Các ngươi sẽ là dân Ta và Ta sẽ là Thiên Chúa của các người” (Lv 26,12). Đó là dân tộc được Đức Giêsu xá tội, là dân được thánh hóa bằng máu Người và gia nhập dân này bằng đức tin chứ không phải cắt bì nữa. Có nghĩa rằng Chúa Giêsu  triệu tập dân chúng từ dân Ít-ra-en và từ các dân ngoại, họp thành một khối duy nhất trong Thánh Thần chứ không theo xác thịt, để làm họ nên dân tộc mới của Thiên Chúa. Thực vậy, những ai tin kính Chúa Kitô đều được tái sinh không phải bởi mầm mống hay hư nát, nhưng do mầm mống bất diệt nhờ lời Thiên Chúa hằng sống (x. 1Pr 1,23), không phải bởi xác thịt nhưng bởi nước và Thánh Thần (x. Ga 3,5-6), và cuối cùng trở thành một "dòng giống được tuyển chọn, thành hàng tư tế vương giả, dân tộc thánh, dân tộc đã được Thiên Chúa thu phục, trước kia không phải là một dân, mà nay là dân của Thiên Chúa" (1Pr 2,9-10).
Dân tộc mới này có vị thủ lãnh là Chúa Kitô, "Ðấng đã bị nộp vì tội lỗi ta và phục sinh cho ta nên công chính" (Rm 4,25), và bây giờ Người được một danh hiệu vượt trên mọi danh hiệu, và đang hiển trị trên trời. Ðịa vị dân này là được vinh dự và tự do làm Con Thiên Chúa, và Thánh Thần ngự trong tâm hồn họ như trong đền thờ. Luật của họ là giới răn mới: phải thương yêu nhau như chính Chúa Kitô đã yêu thương chúng ta (x. Ga 13,34). Sau cùng, cứu cánh của họ, tức là phát triển thêm Nước Thiên Chúa, đã được Ngài khai nguyên trên trần gian, cho tới khi được Ngài hoàn tất trong ngày tận thế, ngày mà Chúa Kitô, sự sống của chúng ta, hiện đến (x. Cl 3,4), ngày mà "chính tạo vật cũng được giải phóng khỏi ách nô lệ hư nát, lại được tự do trong vinh quang con cái Thiên Chúa" (Rm 8,21). Vì thế, dân tộc mới ấy, tuy hiện nay chưa bao gồm toàn thể nhân loại và đôi khi tỏ ra như một đàn chiên nhỏ, nhưng lại là một mầm mống vững chắc nhất của hiệp nhất, hy vọng và cứu rỗi cho toàn thể nhân loại. Dân tộc mới này được Chúa Kitô thiết lập để thông dự vào sự sống, bác ái và chân lý, được Người sử dụng như khí cụ cứu rỗi cho mọi người, và được sai đi khắp thế giới như ánh sáng trần gian và muối đất (x. Mt 5,13-16).
Dân Thiên Chúa giờ đây hoàn siêu việt, “vương quốc tư tế” (1Pr 2,9), dân không còn thuộc về thế gian này nữa (Ga 18,36); tổ quốc của họ ở trên trời (Dt 11,13), nơi mà phần tử đều có quyền công dân (Pl 3,20), vì họ là con cái của Giêrusalem trên trời (Gl 4,26). Tuy nhiên, dân này vẫn còn ở dưới thế, vẫn tiến bước trong thời đại này đang tìm về thành thánh tương lai bất diệt (Dt 13,14), đó là Giáo Hội Chúa Kitô (x. Mt 16,18).
Thực vậy, chính Người đã lấy máu mình mà chuộc lấy Giáo Hội đó (x. Cvtđ 20,28), Người đổ tràn Thánh Thần và ban các phương thế thích hợp để kết hiệp thành một xã hội hữu hình. Thiên Chúa triệu tập tất cả những người tin kính và mong đợi Chúa Kitô, Ðấng ban ơn cứu độ và hiệp nhất, nguyên lý của sự hòa bình; Ngài thiết lập họ thành Giáo Hội để Giáo Hội trở nên bí tích hữu hình của sự hiệp nhất cứu độ ấy cho toàn thể và cho mỗi người. Với bổn phận phải lan rộng khắp thế giới, Giáo Hội đi sâu vào lịch sử nhân loại. Tuy nhiên Giáo Hội đồng thời cũng vượt thời gian và biên giới các dân tộc. Tiến bước giữa cơn cám dỗ và đau thương, Giáo Hội vững mạnh nhờ ơn Thiên Chúa mà Chúa Giêsu đã hứa ban, hầu Giáo Hội vẫn hoàn toàn trung tín, sống như một Hiền Thê xứng đáng của Chúa mình, dầu xác thịt yếu hèn, và không ngừng tự đổi mới dưới tác động của Chúa Thánh Thần cho đến ngày, nhờ thánh giá, đạt đến ánh sáng không hề tắt. (Trích lược, Công Đồng Vaticanô II, Hiến Chế Tín Lý Về Giáo Hội, số 9).


ĐỀN THỜ

Trong tất cả các tôn giáo, đền thờ là nơi thánh, nơi thần linh hiện diện với con người để tiếp nhận sự phụng tự của họ và cho họ thông phần vào các ân huệ và sự sống của thần linh. Đương nhiên thế giới các thần linh không thuộc thế gian này, nhưng đền thờ được coi là nơi cư ngụ của các thần linh. Cho nên, thời Cựu Ước đền thờ Giêrusalem là dấu chỉ sự hiện diện của Thiên Chúa giữa loài người. Nhưng đó chỉ là dấu chỉ tạm thời sẽ được thay thế bằng một dấu chỉ loại khác trong thời Tân ước: Thân Thể Chúa Kitô và Giáo Hội Người. 

I.  CỰU ƯỚC

1. Nhà Thiên Chúa
Thời các tổ phụ không có đền thờ mà chỉ có nơi thánh để thờ phượng Chúa như Bêtel (nhà của Thiên Chúa: St 12,8), Bersabê (St 26,25), Sikhem (St 33,18tt). Đặc biệt Núi Sinai là nơi thánh và đã được thánh hiến do việc Thiên Chúa tỏ mình (Xh 3,19). Trong suốt cuộc hành trình về đất hứa, dân Israel đã dùng Nhà Tạm (đền thờ lưu động) nhờ đó Thiên Chúa hiện diện và dẫn dắt họ (Xh 26-27).
2. Đavít chuẩn bị xây đền thờ
Sau khi chiếm lại hòm bia khỏi tay người Philitin (2Sm 6), Đavít thiết lập thánh địa liên tộc ở Giêrusalem. Và khi đã cất cho mình một cung điện, ngài mơ ước xây một đền thờ cho Giavê (2Sm 7,1-3). Vua Đavít chuẩn bị ba ngàn tấn vàng, ba mươi ngàn tấn bạc, đồng, sắt, gỗ, đá nhiều vô kể. Ngài kêu gọi nhiều nhân công: thợ đá, nghệ nhân chạm trỗ và đủ thứ thợ cao tay trong mọi ngành nghề (2Sm 22,1-16). Nhưng tiếc thay cho ông vì Thiên Chúa chống lại ý định ấy bởi không phải Đavít sẽ xây đền thờ cho Ngài song chính Chúa sẽ xây cất một triều đại cho Đavít (2Sm 7,4-17).
3. Salomon xây Đền Thờ
Kế nghiệp cha, Salomon đã cho xây dựng một Đền Thờ nguy nga, lộng lẫy và tráng lệ trong vòng bảy năm (1V 5,15-7,51). Và dân Israel đã đồng hóa tình yêu đền thánh với lòng sùng mộ Đức Chúa: "Lạy Đức Chúa các đạo binh, cung điện Ngài xiết bao khả ái, mảnh hồn này khát khao mòn mỏi, mong tới được khuôn viên đền vàng. Cả tấm thân con cùng là tấc dạ những hướng lên Chúa Trời hằng sống mà hớn hở reo mừng" (Tv 83, 2-3).

4. Đất nước chia đôi, lưu đày
Vương triều của Salomon đến cuối đời thì bị phân chia. Trong số 12 chi tộc Israel chỉ có hai chi tộc – Giuđa và Benjamin – trung thành với nhà vua, còn các chi tộc khác lập một vương quốc mới, vương quốc Israel. Do vậy đất nước bị chia làm hai: Giuđa và Israel. Chiến tranh giữa hai nước xảy ra. Miền Bắc bị đế quốc Assyri xâm chiếm vào năm 721. Miền nam Giuđa bị đế quốc Babilon tàn phá năm 587, Đền Thánh bị thiêu đốt, dân Do Thái phải tha phương cầu thực sống kiếp lưu đày.

5. Hồi hương, xây lại đền thờ lần thứ hai.
Đế quốc Assyri và Babylon bị đế quốc Ba Tư đánh bại. Năm 538, vua Ba Tư là Cyrus hạ chỉ cho phép người Do Thái lưu đầy được hồi hương trở về quê cha đất tổ. Vua Zorobabel xây dựng tạm đền thờ trên đống đổ nát. Nó được đặt trên nền cũ nhưng nhỏ hơn. Năm 537, Đền thờ bắt đầu được tái thiết nhưng 17 năm ròng rã vẫn chưa xong. Sau cùng, nhờ Khacgai và Giacaria, Đền thờ được hoàn thành, được xây cất theo Đền thờ của Salomon và cùng một kích thước. Năm 445, Nêhêmia xin vua Ba Tư xây dựng lại tường luỹ bảo vệ chung quanh trong vòng hai tháng.

6. Đế quốc Hy Lạp, anh em nhà Maccabê.
 Thành Giêrusalem bị đế quốc Hy lạp chiếm. Năm 166-165, một cuộc nổi dậy trong dân Do Thái, ngoài Mattathia còn có anh em nhà ái quốc Maccabê, họ nổi dậy và đã thành công. Tháng 12 năm 165, chi tộc Giuđa chiếm được Đền thờ, tổ chức lễ Hanmica cũng gọi là lễ Ánh sáng, để nhắc lại ngày tẩy uế và dâng hiến lại Đền thờ cách trọng thể.

7. Hêrôđê xây đền thờ lần thứ ba.
Đền thờ Giêrusalem sau thời lưu đày này tồn tại cho đến khi Pompey của Rôma thôn tính Giêrusalem và Hêrôđê cả lên ngôi vua ở thành phố này. Ông vua tiếm vị và sát nhân này cho xây lại đền thờ Zorobabel, để hoà giải với dân tộc Do Thái, nhất là giai cấp tư tế và đền bù muôn vàn tội lỗi đã xúc phạm đến dân tộc ấy. Ông cần tới ba năm để thu gom vật liệu cần thiết, và bám sát vào đồ án trước đây, chỉ tôn tạo dấu vết cổ xưa, cố gắng dựng lại cách sắp xếp thuở ban đầu, mặc dù chủ yếu dùng kỹ thuật Hy lạp – Roma.
II. TÂN ƯỚC
1. Chúa Giêsu đền thờ mới
Chúa Giêsu tỏ lòng tôn kính sâu đậm đối với đền thờ Giêrusalem nơi Người đã được Đức Maria dâng hiến (Lc 2,22-39). Trong các đại lễ, Người lên đó như lên để gặp gỡ Cha Người (Lc 2,41-50). Chúa Giêsu luôn coi đền thờ là nhà của Thiên Chúa, một ngôi nhà để cầu nguyên, nhà của Cha Người. Cho nên Ngài luôn lên án, nổi giận khi người ta biến nó thành nơi buôn bán (Mt 21,12-17; Ga 2,16tt). Và tuy vậy, Người cũng loan báo ngôi đền tráng lệ này sẽ sụp đổ không còn viên đá nào trên viên đá nào (Mt 23,38tt). Nhưng thực sự đây là một lời nói bí nhiệm chỉ tương lai mới giải thích nổi ý nghĩa.
Qủa thế, ngay trong những giây phút Chúa Giêsu trút hơi thở cuối cùng, màn nơi Cực Thánh bị xé đôi minh chứng thánh điện cũ đã mất hẳn đặc tính thần thiêng của mình: đền thờ Do thái chấm dứt vai trò làm dấu chỉ sự hiện diện của Thiên Chúa thay vào đó là thân xác Chúa Giêsu (Ga 2,19-21tt). Đây chính là đền thờ mới và vĩnh cửu, đền thờ không do tay người phàm làm, nơi Ngôi Lời Thiên Chúa thiết lập chỗ lưu ngụ giữa loài người (Ga 1,14). Như ngày xưa trong Nhà Tạm của Israel
2. Giáo Hội, đền thờ thiêng liêng
Suốt giai đoạn chuyển tiếp sau lễ Ngũ Tuần, các Tông đồ và các tín hữu vẫn tiếp tục lui tới đền thờ Giêrusalem (Cvtđ 2,46; 3,1-11). Nhưng các Kitô hữu vẫn ý thức được rằng chính họ kết thành đền thờ mới, đền thờ thiêng liêng nối dài thân thể Chúa Kitô. Chính thánh Phaolô khẳng định Giáo Hội là đền thờ của Thiên Chúa, được thiết lập trên Đức Kitô, nền tảng, đầu và đá góc tường (1Cr 3,10-17). Đặc biệt thánh Phaolô cho rằng đền thờ ấy là nơi người Do thái và lương dân đều có thể đến gần Chúa Cha, trong cùng một Thánh Thần mà không phân biệt gì cả (Ep 2,14-22).  Vì vậy, chính mỗi Kitô hữu là đền thờ của Thiên Chúa với tư cách là chi thể của Thân Thể Đức Kitô (1Cr 6,15) và thân xác họ là đền đền thờ Chúa Thánh Thần (1Cr 6,19;Rm 8,11).
3. Đền Thờ Thiên Quốc
Trong sách Khải Huyền, hình ảnh của đền thờ Thiên Quốc thể hiện bằng hình ảnh đền thờ dương thế là Giáo Hội. Dưới thế này có một đền thờ nơi các tín hữu thờ phượng Thiên Chúa: những người chưa biết Chúa đã chà đạp lên tiền đường bên ngoài của đền thờ là hình ảnh cuộc bách hại hung tàn chống lại Giáo Hội (Kh 11,1tt). Nhưng có một đền thờ trên trời cao, nơi Con Chiên bị sát tế và là nơi cử hành phụng vụ kinh nguyện và ngợi khen (Kh 5,6-14; 7,15).   

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét