CẮT BÌ
Cắt bì là cắt bao quy đầu của bé trai sau
khi sinh 8 ngày (St 17,11-12).
Cựu Ước
1.
Cắt bì là dấu chỉ gia nhập cộng đoàn
Thứ nhất, cắt bì dấu chỉ gia nhập cộng đoàn
những người trưởng thành. “Khi ấy,
ĐỨC CHÚA phán với ông Giô-suê: "Ngươi hãy làm những con dao bằng đá sắc để
lại cắt bì một lần nữa cho con cái Ít-ra-en." Ông Giô-suê đã làm những con
dao bằng đá và cắt bì cho con cái Ít-ra-en ở Gò Da Quy Đầu” (Gs 5,1-3). Thứ
hai, cắt bì dấu chỉ gia nhập vào gia
đình mới. “Vậy dọc đường, tại nơi ông dừng lại nghỉ đêm, ĐỨC CHÚA bắt
gặp ông và tìm cách giết ông. Bấy giờ, bà Xíp-pô-ra lấy mảnh đá sắc cắt bì cho
con, đụng vào chân ông, rồi nói: "Nhờ máu, ông đã kết nghĩa vợ chồng với
tôi." Và ĐỨC CHÚA tha cho ông. Bà nói: "Nhờ máu, ông đã kết nghĩa vợ chồng
với tôi" là vì phép cắt bì” (Xh 4,24-26).
2. Cắt bì, dấu chỉ Giao ước.
“Thiên
Chúa phán với ông Áp-ra-ham: "Phần ngươi, hãy giữ giao ước của Ta, ngươi
và dòng dõi ngươi sau này, từ thế hệ này qua thế hệ khác. Đây là giao ước của
Ta mà các ngươi phải giữ, giao ước giữa Ta với các ngươi, với dòng dõi ngươi
sau này: mọi đàn ông con trai của các ngươi sẽ phải chịu cắt bì. Các ngươi phải
chịu cắt bì nơi bao quy đầu: đó sẽ là dấu hiệu giao ước giữa Ta với các ngươi.
Sinh được tám ngày, mọi con trai của các ngươi sẽ phải chịu cắt bì, từ thế hệ
này qua thế hệ khác, kể cả nô lệ sinh trong nhà, hay nô lệ các ngươi dùng bạc
mà mua của bất cứ người ngoại bang nào không thuộc dòng dõi các ngươi. Buộc
phải cắt bì nô lệ sinh trong nhà cũng như nô lệ mua bằng bạc. Giao ước của Ta
ghi dấu trong xác thịt các ngươi, sẽ thành giao ước vĩnh cửu. Kẻ không được cắt
bì, người đàn ông con trai không được cắt bì nơi bao quy đầu, sẽ bị khai trừ
khỏi dòng họ: nó đã phá vỡ giao ước của Ta" (St 17,9-14).
3. Cắt bì tâm hồn.
Như vậy, dân
Ít-ra-en cứ tưởng rằng được hưởng những lời hứa của Giao ước chỉ cần cắt bì là
đủ, nhưng thực ra cắt bì tâm hồn mới quan trọng vì nó mang lại ơn cứu độ. “ĐỨC CHÚA, Thiên Chúa của anh (em), sẽ cắt bì
tâm hồn anh (em) và tâm hồn dòng dõi anh (em), để anh (em) yêu mến ĐỨC CHÚA,
Thiên Chúa của anh (em), hết lòng hết dạ, ngõ hầu anh (em) được sống” (Đnl
30,6). Như vậy, cắt bì tâm hồn có nghĩa chúng ta vừa phải yêu mến một mình
Thiên Chúa vừa phải bác ái với anh em mình (Gr 9,24).
Tân Ước
1. Thi hành cắt bì
Chúa Giêsu và Thánh Gioan Tẩy Giả đều chịu
cắt bì (Lc 1,59; 2,21) vì ban đầu Ngài chỉ phục vụ những chiên lạc nhà Ít-ra-en
mà thôi (Mt 15,24tt) rồi đến các tông đồ chỉ “phục vụ những người được cắt bì, để thực hiện những gì Thiên Chúa đã
hứa với tổ tiên họ, đó là do lòng trung thành của Thiên Chúa” (Rm 15,24).
Nhưng về sau Tin Mừng Chúa Giêsu được loan báo cho nhiều dân (Rm 15,9-12). Vì
vậy, vấn đề cắt bì được đặt ra: cắt bì có cần thiết cho tất cả mọi người như
một nghi thức gia nhập dòng dõi Áp-ra-ham không? Sách Tông đồ Công vụ trả lời
rằng chỉ nhận lãnh phép rửa mà không buộc cắt bì (Cvtđ 10-11). Rồi đến Công
đồng chung Giêrusalem ra sắc lệnh công nhận tự do đối với việc cắt bì (Cvtđ 15),
“Thánh Thần và chúng tôi đã quyết định
không đặt lên vai anh em một gánh nặng nào khác ngoài những điều cần thiết này:
là kiêng ăn đồ đã cúng cho ngẫu tượng, kiêng ăn tiết, ăn thịt loài vật không
cắt tiết, và tránh gian dâm. Anh em cẩn thận tránh những điều đó là tốt rồi.
Chúc anh em an mạnh" (Cvtđ 15,28-29).
2. Cắt bì thiêng liêng
Ngày xưa, các
Ngôn sứ mời gọi cắt bì tâm hồn, từ nay, lời mời gọi đó được thực hiện cách khác
bằng cách vượt trên mọi phân biệt chủng tộc bao hàm trong nghi thức cắt bì. Có
nghĩa rằng “Trong Đức Ki-tô Giê-su, cắt
bì hay không cắt bì đều không có giá trị, chỉ có đức tin hành động nhờ đức ái”
(Gl 5,6). Cho nên, “Cắt bì hay không cắt
bì chẳng là gì cả, điều quan trọng là trở nên một thụ tạo mới” (Gl 6,15).
Vì thế, “Chúa đã định cho mỗi người làm
sao, như Thiên Chúa đã kêu gọi mỗi người thế nào, thì cứ sống như vậy: đó là
điều tôi truyền dạy trong mỗi Hội Thánh. Ai đã cắt bì khi được kêu gọi, thì
đừng huỷ bỏ dấu vết cắt bì! Ai chưa cắt bì khi được kêu gọi, thì đừng cắt bì!
Cắt bì chẳng là gì, mà không cắt bì cũng chẳng là gì cả; điều đáng kể là tuân
giữ các điều răn Thiên Chúa” (1Cr 7,17-20). Tóm lại, đức tin làm cho người
cắt bì hay không cắt bì trở nên công chính vì Thiên Chúa là Thiên Chúa của mọi
người (Rm 3,29tt). “Vậy không còn phải
phân biệt Hy-lạp hay Do-thái, cắt bì hay không cắt bì, man di, mọi rợ, nô lệ,
tự do, nhưng chỉ có Đức Ki-tô là tất cả và ở trong mọi người” (Cl 3,11).
Lưu ý: dù nghi
thức cắt bì đã hủy bỏ, nhưng từ ngữ “cắt bì” vẫn còn mang một ý nghĩa. Người
tín hữu có thể hãnh diện nói rằng: “Chúng
ta mới thật là những người được cắt bì, những người thờ phượng Thiên Chúa nhờ
Thần Khí của Người, những người hiên ngang hãnh diện vì Đức Ki-tô Giê-su, chứ
không cậy vào xác thịt” (Pl 3,3). Trong ý nghĩa này, lời của các Ngôn sứ
“cắt bì tâm hồn” thật sự được hoàn thành: cắt bì đích thực, âm thầm, thiêng
liêng và nội tâm (Rm 2,28tt), nó không còn do bàn tay con người thực hiện (Cl
2,11) nhưng được đồng hóa với phép rửa, bí tích sát nhập người tín hữu vào sự
cắt bì của Đức Kitô bằng sự lột bỏ toàn vẹn thân xác (Cl 2,11tt) ngõ hầu họ
được sống muôn đời với Đức Kitô.
CHAY TỊNH
Chay tịnh nghĩa
là kiêng cữ mọi của ăn thức thức uống trừ nước lã hoặc đôi khi cả việc liên
quan đến tính dục, trong một hay nhiều ngày kể từ chiều hôm trước đến chiều hôm
sau. Thánh Kinh xác định rõ việc thực hành chay tịnh luôn kèm với kinh nguyện
và làm phúc. Thánh Kinh coi chay tịnh là một trong những hành vi chính yếu bày
tỏ lòng khiêm nhường, hy vọng và tình yêu của con người trước Thiên Chúa.
1. Ý nghĩa của việc chay tịnh
- Chay tịnh
không phải là một thành tích khổ hạnh, không nhằm đem lại cho con người một
hứng khởi tâm lý hay tôn giáo. Trái lại, chay tịnh luôn kèm theo kinh nguyện là
bày tỏ lòng khiêm nhường trước nhan Thiên Chúa ngõ hầu có thể tiếp nhận hành
động của Thiên Chúa và tự đặt mình trước sự hiện diện của Ngài. “Tôi ăn chay, mặc áo vải thô và rắc tro lên
đầu rồi ngẩng mặt lên Chúa Thượng là Thiên Chúa, để dâng lời khẩn nguyện nài
van” (Đn 9,3). “ĐỨC CHÚA phán với ông
Mô-sê: "Hãy ghi chép những lời này, vì dựa trên chính những lời này mà Ta
đã lập giao ước với ngươi và với Ít-ra-en." Ông ở đó với ĐỨC CHÚA bốn mươi
ngày bốn mươi đêm, không ăn không uống, và ông viết trên những bia các điều
khoản của giao ước, tức là Thập Điều” (Xh 34,27-28).
- Chay tịnh giúp thân
xác và tâm hồn hướng về Chúa với một thái độ lệ thuộc, phó thác và tin tưởng hoàn
toàn nơi Ngài: trước khi khởi đầu một
nhiệm vụ khó khăn (Et 4,16); nài xin Chúa tha thứ một lỗi phạm (1V 21,27); xin
ơn được lành bệnh (2Sm 12,16.22); để than khóc trong cuộc an táng (1Sm 31,13;
2Sm 1,22); sau một thời gian sống trong cảnh góa bụa (Gđt 8,5; Lc 2,37); sau
một quốc nạn (1Sm 7,6); để xin dứt một thiên tai (Gđt 4,9-13); để mở lòng đón
nhận ánh sáng Thiên Chúa (Đn 10,12); để mong chờ ơn cần thiết cho việc hoàn
thành một sứ vụ (Cv 13,2tt); để sửa soạn gặp gỡ Thiên Chúa (Xh 34,28; Đn 9,3)
hay mở đầu cho việc thi hành một sứ mệnh cho Thiên Chúa (Mt 4,1-4).
2. Thực hành chay tịnh
- Phụng vụ Do
thái có một cuộc đại chay nhân ngày Xá tội, đây là một việc bắt buộc đối với
mọi cá nhân thuộc dân Thiên Chúa. “ĐỨC
CHÚA phán với ông Mô-sê rằng: "Ngoài ra, ngày mồng mười tháng bảy là ngày
Xá tội, các ngươi phải họp nhau để thờ phượng Ta, phải ăn chay hãm mình và tiến
dâng một lễ hoả tế lên ĐỨC CHÚA. Chính ngày ấy, các ngươi không được làm một
công việc nặng nhọc nào, vì đó là ngày Xá tội, ngày cử hành lễ xá tội cho các
ngươi trước nhan ĐỨC CHÚA, Thiên Chúa của các ngươi. Như vậy bất cứ người nào
không ăn chay hãm mình vào chính ngày đó, sẽ bị khai trừ khỏi dòng họ; và bất
cứ người nào làm một việc gì vào chính ngày đó, Ta sẽ làm cho nó biến mất không
còn dấu vết giữa dân nó. Các ngươi không được làm một công việc nào:
đó là quy tắc vĩnh viễn cho các thế hệ của các ngươi, tại khắp nơi các ngươi ở.
Đối với các ngươi, đó sẽ là một ngày sa-bát, một ngày nghỉ, và các ngươi phải
ăn chay hãm mình. Từ chiều ngày mồng chín đến chiều hôm sau, các ngươi phải
nghỉ để giữ ngày sa-bát" (Lv 23,26-32).
- Ngoài ra người
Do thái đạo đức còn ăn chay vì lòng sốt sắng riêng (Lc 2,37; Mc 2,18) có thể
mỗi tuần hai lần (Lc 18,12). Cho nên, ăn chay là cách chu toàn một trong những
yếu tố của sự công chính được lề luật và các ngôn sứ qui định. “Bấy giờ các môn đệ ông Gio-an và các người
Pha-ri-sêu đang ăn chay; có người đến hỏi Đức Giê-su: "Tại sao các môn đệ
ông Gio-an và các môn đệ người Pha-ri-sêu ăn chay, mà môn đệ ông lại không ăn
chay?” (Mc 2,18).
- Chúa Giêsu hoàn
chỉnh việc công chính này bằng cách cấm phô trương trong việc chay tịnh nhưng
phải kín đáo. Thêm vào đó, Chúa Giêsu còn nhấn mạnh đến thái độ siêu thoát của
cải (Mt 19,21), đến việc tự nguyện tiết dục (Mt 19,12) và nhất là từ bỏ bản
thân để vác thập giá (Mt 10,38-39).
Tóm lại, việc chay tịnh đích thực phải
luôn đi đôi với lòng yêu người và chăm lo tìm kiếm công chính chân thật (Is
58,2-11) đồng thời kèm theo việc làm phúc cũng như kinh nguyện vì vì tình yêu
Thiên Chúa (Dcr 7,5). Vì vậy, Chúa Giêsu mời gọi ăn chay một cách kín đáo bởi
vì có mình Thiên Chúa biết, như thế việc chay tịnh này sẽ diễn đạt cách tinh
tuyền niềm tin yêu hy vọng vào Chúa. Đó mới là một chay tịnh khiêm hạ để mở tâm
hồn chúng ta đón nhận sự công chính bên trong, công trình của Thiên Chúa Cha,
Đấng nhìn thấy và tác động cách âm thầm. "Khi ăn chay, anh em chớ làm bộ rầu rĩ như bọn đạo đức giả: chúng làm
cho ra vẻ thiểu não, để thiên hạ thấy là chúng ăn chay. Thầy bảo thật anh em, chúng
đã được phần thưởng rồi. Còn anh, khi ăn chay, nên rửa mặt cho sạch, chải đầu
cho thơm, để không ai thấy là anh ăn chay ngoại trừ Cha của anh, Đấng hiện diện
nơi kín đáo. Và Cha của anh, Đấng thấu suốt những gì kín đáo, sẽ trả lại cho
anh” (Mt 6,16-18).
CÔNG CHÍNH
Công chính
trước hết có nghĩa là trả lại cho người khác những gì thuộc về họ. Nói khác
đi công chính là liêm khiết (Đnl 1,16; Lv 19,15), đặc biệt là sự công bình, tức
không áp bức, không tham lam hoặc không nhận những gì không phải của mình (Cn
16,13; 25,5). Cho nên, trước thời lưu đày, các ngôn sứ thường mạnh mẽ tố cáo sự
bất công của các thẩm phán, lòng tham của các nhà vua, việc áp bức kẻ nghèo khó
và tiên báo tai nạn sẽ đến với sự hỗn loạn này (Am 5,7; Is 5,7; Gr 22,13). Cùng
với những lời khiển trách đó, các ngôn sứ tích cực khuyên bảo hãy thực hành
luật pháp và công bình (Hs 10,12; Gr 22,3tt). Ý thức rằng đức bình của con
người quá mỏng manh, nên các Ngài mong đợi Đấng Mêsia sẽ đến như vị Hoàng Tử
liêm khiết thực thi điều chính trực công minh (Is 9,6; Gr 23,5; Tv 45,4tt).
Tiếp
đến, công chính là trung tín và luôn chu toàn nhiệm vụ của mình với Chúa và tha
nhân qua việc tuân giữ trọn vẹn Lề Luật của Thiên Chúa đồng thời sống phù
hợp với những Luật đó (St 18,17tt; Cn 11,5.19; Ez 3,16-21). Nhiệm vụ cốt yếu
là: yêu mến và kính sợ Thiên Chúa đồng thời phải có lòng từ bi nhân hậu yêu mến
đồng loại (Tb 7,6; Kn 12,19, Tv 112; Mt 1,19). Như thế, người công chính là
người đạo đức, hoàn thiện và là bạn hữu của Thiên Chúa (St 18,23-32; Cn 12,10;
Ez 18,5-26).
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét