Trang

Thứ Sáu, 11 tháng 10, 2013

TỪ VỰNG THÁNH KINH - VẦN C


CẮT BÌ

Cắt bì là cắt bao quy đầu của bé trai sau khi sinh 8 ngày (St 17,11-12).

Cựu Ước

          1. Cắt bì là dấu chỉ gia nhập cộng đoàn
Thứ nhất, cắt bì dấu chỉ gia nhập cộng đoàn những người trưởng thành. “Khi ấy, ĐỨC CHÚA phán với ông Giô-suê: "Ngươi hãy làm những con dao bằng đá sắc để lại cắt bì một lần nữa cho con cái Ít-ra-en." Ông Giô-suê đã làm những con dao bằng đá và cắt bì cho con cái Ít-ra-en ở Gò Da Quy Đầu” (Gs 5,1-3). Thứ hai, cắt bì dấu chỉ gia nhập vào gia đình mới. “Vậy dọc đường, tại nơi ông dừng lại nghỉ đêm, ĐỨC CHÚA bắt gặp ông và tìm cách giết ông. Bấy giờ, bà Xíp-pô-ra lấy mảnh đá sắc cắt bì cho con, đụng vào chân ông, rồi nói: "Nhờ máu, ông đã kết nghĩa vợ chồng với tôi." Và ĐỨC CHÚA tha cho ông. Bà nói: "Nhờ máu, ông đã kết nghĩa vợ chồng với tôi" là vì phép cắt bì” (Xh 4,24-26).
          2. Cắt bì, dấu chỉ Giao ước.
Thiên Chúa phán với ông Áp-ra-ham: "Phần ngươi, hãy giữ giao ước của Ta, ngươi và dòng dõi ngươi sau này, từ thế hệ này qua thế hệ khác. Đây là giao ước của Ta mà các ngươi phải giữ, giao ước giữa Ta với các ngươi, với dòng dõi ngươi sau này: mọi đàn ông con trai của các ngươi sẽ phải chịu cắt bì. Các ngươi phải chịu cắt bì nơi bao quy đầu: đó sẽ là dấu hiệu giao ước giữa Ta với các ngươi. Sinh được tám ngày, mọi con trai của các ngươi sẽ phải chịu cắt bì, từ thế hệ này qua thế hệ khác, kể cả nô lệ sinh trong nhà, hay nô lệ các ngươi dùng bạc mà mua của bất cứ người ngoại bang nào không thuộc dòng dõi các ngươi. Buộc phải cắt bì nô lệ sinh trong nhà cũng như nô lệ mua bằng bạc. Giao ước của Ta ghi dấu trong xác thịt các ngươi, sẽ thành giao ước vĩnh cửu. Kẻ không được cắt bì, người đàn ông con trai không được cắt bì nơi bao quy đầu, sẽ bị khai trừ khỏi dòng họ: nó đã phá vỡ giao ước của Ta" (St 17,9-14).
3. Cắt bì tâm hồn.
Như vậy, dân Ít-ra-en cứ tưởng rằng được hưởng những lời hứa của Giao ước chỉ cần cắt bì là đủ, nhưng thực ra cắt bì tâm hồn mới quan trọng vì nó mang lại ơn cứu độ. “ĐỨC CHÚA, Thiên Chúa của anh (em), sẽ cắt bì tâm hồn anh (em) và tâm hồn dòng dõi anh (em), để anh (em) yêu mến ĐỨC CHÚA, Thiên Chúa của anh (em), hết lòng hết dạ, ngõ hầu anh (em) được sống” (Đnl 30,6). Như vậy, cắt bì tâm hồn có nghĩa chúng ta vừa phải yêu mến một mình Thiên Chúa vừa phải bác ái với anh em mình (Gr 9,24).   
Tân Ước
1. Thi hành cắt bì
Chúa Giêsu và Thánh Gioan Tẩy Giả đều chịu cắt bì (Lc 1,59; 2,21) vì ban đầu Ngài chỉ phục vụ những chiên lạc nhà Ít-ra-en mà thôi (Mt 15,24tt) rồi đến các tông đồ chỉ “phục vụ những người được cắt bì, để thực hiện những gì Thiên Chúa đã hứa với tổ tiên họ, đó là do lòng trung thành của Thiên Chúa” (Rm 15,24). Nhưng về sau Tin Mừng Chúa Giêsu được loan báo cho nhiều dân (Rm 15,9-12). Vì vậy, vấn đề cắt bì được đặt ra: cắt bì có cần thiết cho tất cả mọi người như một nghi thức gia nhập dòng dõi Áp-ra-ham không? Sách Tông đồ Công vụ trả lời rằng chỉ nhận lãnh phép rửa mà không buộc cắt bì (Cvtđ 10-11). Rồi đến Công đồng chung Giêrusalem ra sắc lệnh công nhận tự do đối với việc cắt bì (Cvtđ 15), “Thánh Thần và chúng tôi đã quyết định không đặt lên vai anh em một gánh nặng nào khác ngoài những điều cần thiết này: là kiêng ăn đồ đã cúng cho ngẫu tượng, kiêng ăn tiết, ăn thịt loài vật không cắt tiết, và tránh gian dâm. Anh em cẩn thận tránh những điều đó là tốt rồi. Chúc anh em an mạnh" (Cvtđ 15,28-29).
2. Cắt bì thiêng liêng
Ngày xưa, các Ngôn sứ mời gọi cắt bì tâm hồn, từ nay, lời mời gọi đó được thực hiện cách khác bằng cách vượt trên mọi phân biệt chủng tộc bao hàm trong nghi thức cắt bì. Có nghĩa rằng “Trong Đức Ki-tô Giê-su, cắt bì hay không cắt bì đều không có giá trị, chỉ có đức tin hành động nhờ đức ái” (Gl 5,6). Cho nên, “Cắt bì hay không cắt bì chẳng là gì cả, điều quan trọng là trở nên một thụ tạo mới” (Gl 6,15). Vì thế, “Chúa đã định cho mỗi người làm sao, như Thiên Chúa đã kêu gọi mỗi người thế nào, thì cứ sống như vậy: đó là điều tôi truyền dạy trong mỗi Hội Thánh. Ai đã cắt bì khi được kêu gọi, thì đừng huỷ bỏ dấu vết cắt bì! Ai chưa cắt bì khi được kêu gọi, thì đừng cắt bì! Cắt bì chẳng là gì, mà không cắt bì cũng chẳng là gì cả; điều đáng kể là tuân giữ các điều răn Thiên Chúa” (1Cr 7,17-20). Tóm lại, đức tin làm cho người cắt bì hay không cắt bì trở nên công chính vì Thiên Chúa là Thiên Chúa của mọi người (Rm 3,29tt). “Vậy không còn phải phân biệt Hy-lạp hay Do-thái, cắt bì hay không cắt bì, man di, mọi rợ, nô lệ, tự do, nhưng chỉ có Đức Ki-tô là tất cả và ở trong mọi người” (Cl 3,11).


Lưu ý: dù nghi thức cắt bì đã hủy bỏ, nhưng từ ngữ “cắt bì” vẫn còn mang một ý nghĩa. Người tín hữu có thể hãnh diện nói rằng: “Chúng ta mới thật là những người được cắt bì, những người thờ phượng Thiên Chúa nhờ Thần Khí của Người, những người hiên ngang hãnh diện vì Đức Ki-tô Giê-su, chứ không cậy vào xác thịt” (Pl 3,3). Trong ý nghĩa này, lời của các Ngôn sứ “cắt bì tâm hồn” thật sự được hoàn thành: cắt bì đích thực, âm thầm, thiêng liêng và nội tâm (Rm 2,28tt), nó không còn do bàn tay con người thực hiện (Cl 2,11) nhưng được đồng hóa với phép rửa, bí tích sát nhập người tín hữu vào sự cắt bì của Đức Kitô bằng sự lột bỏ toàn vẹn thân xác (Cl 2,11tt) ngõ hầu họ được sống muôn đời với Đức Kitô.  


CHAY TỊNH

Chay tịnh nghĩa là kiêng cữ mọi của ăn thức thức uống trừ nước lã hoặc đôi khi cả việc liên quan đến tính dục, trong một hay nhiều ngày kể từ chiều hôm trước đến chiều hôm sau. Thánh Kinh xác định rõ việc thực hành chay tịnh luôn kèm với kinh nguyện và làm phúc. Thánh Kinh coi chay tịnh là một trong những hành vi chính yếu bày tỏ lòng khiêm nhường, hy vọng và tình yêu của con người trước Thiên Chúa.
1. Ý nghĩa của việc chay tịnh
- Chay tịnh không phải là một thành tích khổ hạnh, không nhằm đem lại cho con người một hứng khởi tâm lý hay tôn giáo. Trái lại, chay tịnh luôn kèm theo kinh nguyện là bày tỏ lòng khiêm nhường trước nhan Thiên Chúa ngõ hầu có thể tiếp nhận hành động của Thiên Chúa và tự đặt mình trước sự hiện diện của Ngài. “Tôi ăn chay, mặc áo vải thô và rắc tro lên đầu rồi ngẩng mặt lên Chúa Thượng là Thiên Chúa, để dâng lời khẩn nguyện nài van” (Đn 9,3). “ĐỨC CHÚA phán với ông Mô-sê: "Hãy ghi chép những lời này, vì dựa trên chính những lời này mà Ta đã lập giao ước với ngươi và với Ít-ra-en." Ông ở đó với ĐỨC CHÚA bốn mươi ngày bốn mươi đêm, không ăn không uống, và ông viết trên những bia các điều khoản của giao ước, tức là Thập Điều” (Xh 34,27-28).
- Chay tịnh giúp thân xác và tâm hồn hướng về Chúa với một thái độ lệ thuộc, phó thác và tin tưởng hoàn toàn nơi Ngài:  trước khi khởi đầu một nhiệm vụ khó khăn (Et 4,16); nài xin Chúa tha thứ một lỗi phạm (1V 21,27); xin ơn được lành bệnh (2Sm 12,16.22); để than khóc trong cuộc an táng (1Sm 31,13; 2Sm 1,22); sau một thời gian sống trong cảnh góa bụa (Gđt 8,5; Lc 2,37); sau một quốc nạn (1Sm 7,6); để xin dứt một thiên tai (Gđt 4,9-13); để mở lòng đón nhận ánh sáng Thiên Chúa (Đn 10,12); để mong chờ ơn cần thiết cho việc hoàn thành một sứ vụ (Cv 13,2tt); để sửa soạn gặp gỡ Thiên Chúa (Xh 34,28; Đn 9,3) hay mở đầu cho việc thi hành một sứ mệnh cho Thiên Chúa (Mt 4,1-4).
2. Thực hành chay tịnh
- Phụng vụ Do thái có một cuộc đại chay nhân ngày Xá tội, đây là một việc bắt buộc đối với mọi cá nhân thuộc dân Thiên Chúa. “ĐỨC CHÚA phán với ông Mô-sê rằng: "Ngoài ra, ngày mồng mười tháng bảy là ngày Xá tội, các ngươi phải họp nhau để thờ phượng Ta, phải ăn chay hãm mình và tiến dâng một lễ hoả tế lên ĐỨC CHÚA. Chính ngày ấy, các ngươi không được làm một công việc nặng nhọc nào, vì đó là ngày Xá tội, ngày cử hành lễ xá tội cho các ngươi trước nhan ĐỨC CHÚA, Thiên Chúa của các ngươi. Như vậy bất cứ người nào không ăn chay hãm mình vào chính ngày đó, sẽ bị khai trừ khỏi dòng họ; và bất cứ người nào làm một việc gì vào chính ngày đó, Ta sẽ làm cho nó biến mất không còn dấu vết giữa dân nó. Các ngươi không được làm một công việc nào: đó là quy tắc vĩnh viễn cho các thế hệ của các ngươi, tại khắp nơi các ngươi ở. Đối với các ngươi, đó sẽ là một ngày sa-bát, một ngày nghỉ, và các ngươi phải ăn chay hãm mình. Từ chiều ngày mồng chín đến chiều hôm sau, các ngươi phải nghỉ để giữ ngày sa-bát" (Lv 23,26-32). 
- Ngoài ra người Do thái đạo đức còn ăn chay vì lòng sốt sắng riêng (Lc 2,37; Mc 2,18) có thể mỗi tuần hai lần (Lc 18,12). Cho nên, ăn chay là cách chu toàn một trong những yếu tố của sự công chính được lề luật và các ngôn sứ qui định. “Bấy giờ các môn đệ ông Gio-an và các người Pha-ri-sêu đang ăn chay; có người đến hỏi Đức Giê-su: "Tại sao các môn đệ ông Gio-an và các môn đệ người Pha-ri-sêu ăn chay, mà môn đệ ông lại không ăn chay?” (Mc 2,18).    
- Chúa Giêsu hoàn chỉnh việc công chính này bằng cách cấm phô trương trong việc chay tịnh nhưng phải kín đáo. Thêm vào đó, Chúa Giêsu còn nhấn mạnh đến thái độ siêu thoát của cải (Mt 19,21), đến việc tự nguyện tiết dục (Mt 19,12) và nhất là từ bỏ bản thân để vác thập giá (Mt 10,38-39).

Tóm lại, việc chay tịnh đích thực phải luôn đi đôi với lòng yêu người và chăm lo tìm kiếm công chính chân thật (Is 58,2-11) đồng thời kèm theo việc làm phúc cũng như kinh nguyện vì vì tình yêu Thiên Chúa (Dcr 7,5). Vì vậy, Chúa Giêsu mời gọi ăn chay một cách kín đáo bởi vì có mình Thiên Chúa biết, như thế việc chay tịnh này sẽ diễn đạt cách tinh tuyền niềm tin yêu hy vọng vào Chúa. Đó mới là một chay tịnh khiêm hạ để mở tâm hồn chúng ta đón nhận sự công chính bên trong, công trình của Thiên Chúa Cha, Đấng nhìn thấy và tác động cách âm thầm. "Khi ăn chay, anh em chớ làm bộ rầu rĩ như bọn đạo đức giả: chúng làm cho ra vẻ thiểu não, để thiên hạ thấy là chúng ăn chay. Thầy bảo thật anh em, chúng đã được phần thưởng rồi. Còn anh, khi ăn chay, nên rửa mặt cho sạch, chải đầu cho thơm, để không ai thấy là anh ăn chay ngoại trừ Cha của anh, Đấng hiện diện nơi kín đáo. Và Cha của anh, Đấng thấu suốt những gì kín đáo, sẽ trả lại cho anh” (Mt 6,16-18). 


CÔNG CHÍNH

Công chính trước hết có nghĩa là trả lại cho người khác những gì thuộc về họ. Nói khác đi công chính là liêm khiết (Đnl 1,16; Lv 19,15), đặc biệt là sự công bình, tức không áp bức, không tham lam hoặc không nhận những gì không phải của mình (Cn 16,13; 25,5). Cho nên, trước thời lưu đày, các ngôn sứ thường mạnh mẽ tố cáo sự bất công của các thẩm phán, lòng tham của các nhà vua, việc áp bức kẻ nghèo khó và tiên báo tai nạn sẽ đến với sự hỗn loạn này (Am 5,7; Is 5,7; Gr 22,13). Cùng với những lời khiển trách đó, các ngôn sứ tích cực khuyên bảo hãy thực hành luật pháp và công bình (Hs 10,12; Gr 22,3tt). Ý thức rằng đức bình của con người quá mỏng manh, nên các Ngài mong đợi Đấng Mêsia sẽ đến như vị Hoàng Tử liêm khiết thực thi điều chính trực công minh (Is 9,6; Gr 23,5; Tv 45,4tt).  

Tiếp đến, công chính là trung tín và luôn chu toàn nhiệm vụ của mình với Chúa và tha nhân qua việc tuân giữ trọn vẹn Lề Luật của Thiên Chúa đồng thời sống phù hợp với những Luật đó (St 18,17tt; Cn 11,5.19; Ez 3,16-21). Nhiệm vụ cốt yếu là: yêu mến và kính sợ Thiên Chúa đồng thời phải có lòng từ bi nhân hậu yêu mến đồng loại (Tb 7,6; Kn 12,19, Tv 112; Mt 1,19). Như thế, người công chính là người đạo đức, hoàn thiện và là bạn hữu của Thiên Chúa (St 18,23-32; Cn 12,10; Ez 18,5-26).

Cuối cùng công chính đích đích thực là: không giận ghen ghét (Mt 5,21-26), không ngoại tình (Mt 5,27-30), không ly dị (Mt 5,31-32 ), không thề gian thề dối (Mt 5,33-37), không trả thù (Mt 5,38-42) ngược lại yêu thương kẻ thù (Mt 5,43-48). Như vậy, người công chính phải luôn trung thành với Lề Luật mới chính Chúa Giêsu ban hành dù phải chịu đau khổ, chịu chết vì Chúa và tha nhân. Chắc chắn họ sẽ được phần thưởng đó là “Đức khôn ngoan Chúa ban làm cho con người trở nên trước là thanh khiết, sau là hiếu hoà, khoan dung, mềm dẻo, đầy từ bi và sinh nhiều hoa thơm trái tốt, không thiên vị, cũng chẳng giả hình. Người xây dựng hoà bình thu hoạch được hoa trái đã gieo trong hoà bình, là cuộc đời công chính” (Ga 3,18). Đặc biệt họ sẽ được Thiên Chúa ban tặng một triều thiên chính là sự sống đời (2Pr 3,11-18).



Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét