Trang

Thứ Sáu, 11 tháng 10, 2013

TỪ VỰNG THÁNH KINH - VẦN B

BÁC ÁI

1. Bác ái là gì?
Bác ái là gớm ghét làm điều dữ, vì “Thói kiêu căng ngạo mạn, và lối sống bất lương cũng như những lời gian manh, tráo trở, đó là những điều Chúa chê ghét” (Cn 8,13). Còn đối với tha nhân thì “Chớ giết người, chớ ngoại tình, chớ trộm cắp, chớ làm chứng gian, chớ làm hại ai" (Mc 10,9) vì “Ai đánh chết người, thì phải bị giết chết. Nhưng nếu không có mưu tính trước, mà chỉ vì Thiên Chúa đã để lỡ tay, thì Ta sẽ chỉ cho ngươi một nơi mà kẻ giết người có thể vào trú ẩn. Nếu có ai cố tình hại người thân cận tới mức dùng mưu mà giết nó, thì ngươi sẽ lôi kẻ ấy ra khỏi bàn thờ của Ta mà giết chết. Ai đánh cha hoặc mẹ, thì phải bị giết chết. Ai bắt cóc người -dù đã bán đi hay còn giữ trong tay, thì phải bị giết chết. Kẻ nào nguyền rủa cha hoặc mẹ, thì phải bị giết chết” (Xh 21,12-15).
Bác ái là tha thiết làm việc lành phước đức: thảo kính cha mẹ, nhiệt thành, không trễ nải, lấy tinh thần sốt sắng mà phục vụ Chúa và anh em; vui mừng vì có niềm hy vọng, kiên nhẫn lúc gặp gian truân, và chuyên cần cầu nguyện; chia sẻ và giúp đỡ những người đang đau khổ hay lâm cảnh thiếu thốn, và ân cần đón tiếp mọi người, biết vui với người vui, khóc với người khóc (Rm 12, 9-20) vì họ là chính là Chúa (Mt 25,40). 

Bác ái là bao dung và tha thứ cho nhau, “Bấy giờ, ông Phê-rô đến gần Đức Giê-su mà hỏi rằng: "Thưa Thầy, nếu anh em con cứ xúc phạm đến con, thì con phải tha đến mấy lần? Có phải bảy lần không? " Đức Giê-su đáp: "Thầy không bảo là đến bảy lần, nhưng là đến bảy mươi lần bảy" (Mt 18,21-22).

Bác ái là kính trọng, yêu thương và cầu nguyện tất cả mọi người kể cả kẻ thù chúng ta, "Anh em đã nghe Luật dạy rằng: Hãy yêu đồng loại và hãy ghét kẻ thù. Còn Thầy, Thầy bảo anh em: hãy yêu kẻ thù và cầu nguyện cho những kẻ ngược đãi anh em. Như vậy, anh em mới được trở nên con cái của Cha anh em, Đấng ngự trên trời, vì Người cho mặt trời của Người mọc lên soi sáng kẻ xấu cũng như người tốt, và cho mưa xuống trên người công chính cũng như kẻ bất chính. Vì nếu anh em yêu thương kẻ yêu thương mình, thì anh em nào có công chi? Ngay cả những người thu thuế cũng chẳng làm như thế sao? Nếu anh em chỉ chào hỏi anh em mình thôi, thì anh em có làm gì lạ thường đâu? Ngay cả người ngoại cũng chẳng làm như thế sao? Vậy anh em hãy nên hoàn thiện, như Cha anh em trên trời là Đấng hoàn thiện”  (Mt 5,43-48).

Tóm lại, bác ái gồm các chiều kích này: quảng đại, bao dung, vị tha và yêu thương tha thứ tất cả mọi người không trừ một ai.  

2. Đặc điểm của bác ái
  Đặc điểm của bác ái đó là: "nhẫn nhục, hiền hậu, không ghen tương, không vênh vang, không tự đắc, không làm điều bất chính, không tìm tư lợi, không nóng giận, không nuôi hận thù, không mừng khi thấy sự gian ác, nhưng vui khi thấy điều chân thật,  tha thứ tất cả, tin tưởng tất cả, hy vọng tất cả, chịu đựng tất cả” (1Cr 13,4-7).  
Kết luận, bác ái phải phát xuất từ con tim trong sạch, từ lương tâm ngay thẳng và từ một đức tin chân thật (2Cr 6,6). Cho nên, càng sống đức bác ái chúng ta càng trở thành người Kitô hơn (Ep 4,15-16). Nói cách khác, càng thực thi bác ái càng được lớn lên trong Chúa Kitô, càng nên giống Chúa Kitô nhiều hơn.



BÁNH KHÔNG MEN

1. Cựu Ước
a. Ngày lễ
Lễ Qua Vượt Qua của người Do thái là ngày 14 tháng abib hay tháng bông lúa (sau lưu đày người ta gọi là tháng nisan). Với thời gian này, một lễ khác có nguồn gốc riêng nhưng cùng được mừng chung trong mùa xuân và được sát nhập vào lễ Vượt Qua đó là Lễ Bánh Không Men (Xh 12,15-20). Trong tháng này, lễ Vượt Qua mừng ngày 14, còn lễ Bánh Không Men được định từ ngày 15 đến ngày 21. Lễ Vượt Qua và lễ Bánh Không Men có khi được mừng chung với nhau (Đnl 16,1-8; 2Sb 30,1-13); nhưng cũng có khi được mừng riêng (Lv 23,5-8). 
Truyền thống người Do thái liên lễ này vào cuộc xuất hành khỏi Ai Cập. “Ngươi sẽ giữ tục lệ mừng lễ Bánh Không Men: trong bảy ngày, ngươi sẽ ăn bánh không men vào thời chỉ định trong tháng A-víp, như Ta đã truyền cho ngươi, vì trong tháng đó ngươi đã ra khỏi Ai-cập. Người ta không được đi tay không đến trước nhan Ta” (Xh 23,15). Bánh không men có nghĩa rằng người Do thái lên đường vội vã đến nỗi phải đem theo bột làm bánh chưa kịp lên men (Xh 12,34.39).
b. Cử hành
"Trong bảy ngày, các ngươi phải ăn Bánh Không Men. Ngay từ ngày thứ nhất, các ngươi phải loại men ra khỏi nhà, vì phàm ai ăn bánh có men, từ ngày thứ nhất đến ngày thứ bảy, người đó sẽ bị khai trừ khỏi Ít-ra-en. Ngày thứ nhất, các ngươi phải họp nhau thờ phượng Ta, ngày thứ bảy cũng họp nhau thờ phượng Ta. Những ngày đó không được làm công việc nào cả, chỉ được dọn bữa cho ai nấy ăn mà thôi. Các ngươi sẽ giữ tục lệ mừng lễ Bánh Không Men, vì vào chính ngày đó, Ta đã đưa các đạo binh của các ngươi ra khỏi đất Ai-cập. Qua mọi thế hệ, các ngươi phải giữ tục lệ mừng ngày lễ ấy: đó là điều luật vĩnh viễn. Tháng Giêng, ngày mười bốn trong tháng, từ buổi chiều, các ngươi sẽ ăn bánh không men, cho đến buổi chiều ngày hai mươi mốt. Trong bảy ngày, không được giữ men trong nhà các ngươi, vì phàm ai ăn bánh có men, người đó sẽ bị khai trừ khỏi cộng đoàn Ít-ra-en, bất luận là ngoại kiều hay người bản xứ. Các ngươi không được ăn các thứ bánh có men; dù ở đâu, các ngươi cũng phải ăn bánh không men" (Xh 12,15-20).

2. Tân Ước
(trích câu hỏi 29 của Tập Sách “40 Câu Hỏi Về Thánh Lễ, Lm Giuse Vũ Thái Hòa)

Chúa Giêsu và các môn đệ ăn lễ Vượt Qua trong tuần lễ Bánh Không Men.  Bữa Tiệc Ly là tiệc lễ Vượt Qua của Chúa Giêsu, trong đó người ta dùng bánh nướng không men để tưởng nhớ ngày dân Do-thái, do phải vội vã lên đường trốn ra khỏi Ai-cập, họ không có đủ thời giờ để chờ bột dậy men rồi đem nướng. Dùng bánh không men là cách để nhắc nhở việc ấy (x. Mt 26,17, Mc 14,12 và Lc 22,7-8).

3. Hội Thánh thời sơ khai và hiện nay       

Vào giữa thế kỷ thứ II, thánh Justinô cho biết là giáo dân đem bánh nướng tại nhà mình đến để dâng trên bàn thờ. Chắc chắn đó là bánh nướng được làm dậy bằng men. Cho tới thế kỷ thứ XI, người ta chấp nhận cả bánh có men lẫn bánh không men để cử hành thánh lễ. Vào giữa thế kỷ XI, Giáo Hội Tây Phương có thói quen chỉ dùng bánh không men.
Vào thế kỷ thứ XII, việc tôn kính Thánh Thể trở nên phổ biến và được thực hiện một cách tỉ mỉ. Người ta cố giữ làm sao không cho một mẩu vụn bánh nào rơi xuống đất. Bánh không men được xét là thích hợp hơn để dâng thánh lễ vì ít bở hơn và nhẹ hơn bánh có men. Vả lại, với bánh không men, người ta làm được dễ dàng những tấm bánh trắng và đẹp, dấu chỉ sự tinh tuyền của lễ vật chúng ta dâng. Hơn nữa, với bánh không men, người ta dễ làm các bánh nhỏ dành cho giáo dân. Thánh lễ là dấu chỉ của sự hiệp nhất. Do Giáo Hội Đông Phương vẫn duy trì bánh không men, nên việc chúng ta cũng dùng bánh không men để biểu lộ sự hợp nhất với các Kitô hữu Đông Phương. Thánh lễ không phải là bữa tiệc như những bữa tiệc khác cho nên dùng loại bánh đặc biệt nói lên tính chất đặc thù của bữa tiệc Thánh Thể.
Vậy, Bộ Giáo Luật hiện hành của Giáo Hội qui định rằng “Theo truyền thống lâu đời của Giáo Hội Latinh, khi cử hành Thánh Thể bất cứ ở đâu, tư tế phải dùng bánh không men” (số 926).



Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét