BÁC ÁI
1. Bác ái là gì?
Bác ái là gớm ghét làm điều dữ,
vì “Thói kiêu căng ngạo mạn, và lối sống
bất lương cũng như những lời gian manh, tráo trở, đó là những điều Chúa chê
ghét” (Cn 8,13). Còn đối với tha nhân thì “Chớ giết người, chớ ngoại tình, chớ trộm cắp, chớ làm chứng gian, chớ
làm hại ai" (Mc 10,9) vì “Ai
đánh chết người, thì phải bị giết chết. Nhưng nếu không có mưu tính trước, mà
chỉ vì Thiên Chúa đã để lỡ tay, thì Ta sẽ chỉ cho ngươi một nơi mà kẻ giết
người có thể vào trú ẩn. Nếu có ai cố tình hại người thân cận tới mức dùng mưu
mà giết nó, thì ngươi sẽ lôi kẻ ấy ra khỏi bàn thờ của Ta mà giết chết. Ai đánh
cha hoặc mẹ, thì phải bị giết chết. Ai bắt cóc người -dù đã bán đi hay còn giữ
trong tay, thì phải bị giết chết. Kẻ nào nguyền rủa cha hoặc mẹ, thì phải bị
giết chết” (Xh 21,12-15).
Bác ái là tha thiết làm việc lành phước đức:
thảo kính cha mẹ, nhiệt thành, không trễ nải, lấy tinh thần sốt sắng mà phục vụ
Chúa và anh em; vui mừng vì có niềm hy vọng, kiên nhẫn lúc gặp gian truân, và
chuyên cần cầu nguyện; chia sẻ và giúp đỡ những người đang đau khổ hay lâm cảnh
thiếu thốn, và ân cần đón tiếp mọi người, biết vui với người vui, khóc với
người khóc (Rm 12, 9-20) vì họ là chính là Chúa (Mt 25,40).
Bác ái là bao
dung và tha thứ cho nhau, “Bấy giờ, ông Phê-rô đến gần Đức Giê-su mà hỏi rằng:
"Thưa Thầy, nếu anh em con cứ xúc phạm đến con, thì con phải tha đến mấy
lần? Có phải bảy lần không? " Đức Giê-su đáp: "Thầy không bảo là đến
bảy lần, nhưng là đến bảy mươi lần bảy" (Mt 18,21-22).
Bác ái là kính
trọng, yêu thương và cầu nguyện tất cả mọi người kể cả kẻ thù chúng ta, "Anh
em đã nghe Luật dạy rằng: Hãy yêu đồng loại và hãy ghét kẻ thù. Còn Thầy, Thầy
bảo anh em: hãy yêu kẻ thù và cầu nguyện cho những kẻ ngược đãi anh em. Như
vậy, anh em mới được trở nên con cái của Cha anh em, Đấng ngự trên trời, vì
Người cho mặt trời của Người mọc lên soi sáng kẻ xấu cũng như người tốt, và cho
mưa xuống trên người công chính cũng như kẻ bất chính. Vì nếu anh em yêu thương
kẻ yêu thương mình, thì anh em nào có công chi? Ngay cả những người thu thuế
cũng chẳng làm như thế sao? Nếu anh em chỉ chào hỏi anh em mình thôi, thì anh
em có làm gì lạ thường đâu? Ngay cả người ngoại cũng chẳng làm như thế sao? Vậy
anh em hãy nên hoàn thiện, như Cha anh em trên trời là Đấng hoàn thiện”
(Mt 5,43-48).
Tóm lại, bác ái gồm các
chiều kích này: quảng đại, bao dung, vị
tha và yêu thương tha thứ tất cả mọi người không trừ một ai.
2. Đặc điểm của bác ái
Đặc điểm của bác ái đó là: "nhẫn nhục, hiền hậu, không ghen tương, không
vênh vang, không tự đắc, không làm điều bất chính, không tìm tư lợi, không nóng
giận, không nuôi hận thù, không mừng khi thấy sự gian ác, nhưng vui khi thấy
điều chân thật, tha thứ tất cả, tin
tưởng tất cả, hy vọng tất cả, chịu đựng tất cả” (1Cr 13,4-7).
Kết luận, bác ái phải
phát xuất từ con tim trong sạch, từ lương tâm ngay thẳng và từ một đức tin
chân thật (2Cr 6,6). Cho nên, càng sống đức bác ái chúng ta càng trở thành
người Kitô hơn (Ep 4,15-16). Nói cách khác, càng thực thi bác ái càng được lớn
lên trong Chúa Kitô, càng nên giống Chúa Kitô nhiều hơn.
BÁNH KHÔNG MEN
1. Cựu Ước
a. Ngày lễ
Lễ Qua Vượt Qua
của người Do thái là ngày 14 tháng abib
hay tháng bông lúa (sau lưu đày người ta gọi là tháng nisan). Với thời gian này, một lễ khác có nguồn gốc riêng nhưng
cùng được mừng chung trong mùa xuân và được sát nhập vào lễ Vượt Qua đó là Lễ
Bánh Không Men (Xh 12,15-20). Trong tháng này, lễ Vượt Qua mừng ngày 14, còn lễ
Bánh Không Men được định từ ngày 15 đến ngày 21. Lễ Vượt Qua và lễ Bánh Không
Men có khi được mừng chung với nhau (Đnl 16,1-8; 2Sb 30,1-13); nhưng cũng có
khi được mừng riêng (Lv 23,5-8).
Truyền
thống người Do thái liên lễ này vào cuộc xuất hành khỏi Ai Cập. “Ngươi sẽ giữ tục lệ mừng lễ Bánh Không Men:
trong bảy ngày, ngươi sẽ ăn bánh không men vào thời chỉ định trong tháng A-víp,
như Ta đã truyền cho ngươi, vì trong tháng đó ngươi đã ra khỏi Ai-cập. Người ta
không được đi tay không đến trước nhan Ta” (Xh 23,15). Bánh không men có
nghĩa rằng người Do thái lên đường vội vã đến nỗi phải đem theo bột làm bánh chưa
kịp lên men (Xh 12,34.39).
b. Cử hành
"Trong bảy ngày, các ngươi phải ăn Bánh Không
Men. Ngay từ ngày thứ nhất, các ngươi phải loại men ra khỏi nhà, vì phàm ai ăn
bánh có men, từ ngày thứ nhất đến ngày thứ bảy, người đó sẽ bị khai trừ khỏi
Ít-ra-en. Ngày thứ nhất, các ngươi phải họp nhau thờ phượng Ta, ngày thứ bảy
cũng họp nhau thờ phượng Ta. Những ngày đó không được làm công việc nào cả, chỉ
được dọn bữa cho ai nấy ăn mà thôi. Các ngươi sẽ giữ tục lệ mừng lễ Bánh Không
Men, vì vào chính ngày đó, Ta đã đưa các đạo binh của các ngươi ra khỏi đất
Ai-cập. Qua mọi thế hệ, các ngươi phải giữ tục lệ mừng ngày lễ ấy: đó là điều
luật vĩnh viễn. Tháng Giêng, ngày mười bốn trong tháng, từ buổi chiều, các
ngươi sẽ ăn bánh không men, cho đến buổi chiều ngày hai mươi mốt. Trong bảy
ngày, không được giữ men trong nhà các ngươi, vì phàm ai ăn bánh có men, người
đó sẽ bị khai trừ khỏi cộng đoàn Ít-ra-en, bất luận là ngoại kiều hay người bản
xứ. Các ngươi không được ăn các thứ bánh có men; dù ở đâu, các ngươi cũng phải
ăn bánh không men" (Xh 12,15-20).
2. Tân Ước
(trích câu hỏi 29 của Tập Sách “40 Câu Hỏi Về Thánh Lễ, Lm Giuse Vũ
Thái Hòa)
Chúa Giêsu và
các môn đệ ăn lễ Vượt Qua trong tuần lễ Bánh Không Men. Bữa Tiệc Ly là tiệc lễ Vượt Qua của Chúa
Giêsu, trong đó người ta dùng bánh nướng không men để tưởng nhớ ngày dân
Do-thái, do phải vội vã lên đường trốn ra khỏi Ai-cập, họ không có đủ thời giờ
để chờ bột dậy men rồi đem nướng. Dùng bánh không men là cách để nhắc nhở việc
ấy (x. Mt 26,17, Mc 14,12 và Lc 22,7-8).
3. Hội Thánh thời sơ khai và hiện nay
Vào giữa thế kỷ
thứ II, thánh Justinô cho biết là giáo dân đem bánh nướng tại nhà mình đến để
dâng trên bàn thờ. Chắc chắn đó là bánh nướng được làm dậy bằng men. Cho tới
thế kỷ thứ XI, người ta chấp nhận cả bánh có men lẫn bánh không men để cử hành
thánh lễ. Vào giữa thế kỷ XI, Giáo Hội Tây Phương có thói quen chỉ dùng bánh
không men.
Vào
thế kỷ thứ XII, việc tôn kính Thánh Thể trở nên phổ biến và được thực hiện một
cách tỉ mỉ. Người ta cố giữ làm sao không cho một mẩu vụn bánh nào rơi xuống
đất. Bánh không men được xét là thích hợp hơn để dâng thánh lễ vì ít bở hơn và
nhẹ hơn bánh có men. Vả lại, với bánh không men, người ta làm được dễ dàng
những tấm bánh trắng và đẹp, dấu chỉ sự tinh tuyền của lễ vật chúng ta dâng.
Hơn nữa, với bánh không men, người ta dễ làm các bánh nhỏ dành cho giáo dân.
Thánh lễ là dấu chỉ của sự hiệp nhất. Do Giáo Hội Đông Phương vẫn duy trì bánh
không men, nên việc chúng ta cũng dùng bánh không men để biểu lộ sự hợp nhất
với các Kitô hữu Đông Phương. Thánh lễ không phải là bữa tiệc như những bữa
tiệc khác cho nên dùng loại bánh đặc biệt nói lên tính chất đặc thù của bữa
tiệc Thánh Thể.
Vậy,
Bộ Giáo Luật hiện hành của Giáo Hội qui định rằng “Theo truyền thống lâu đời
của Giáo Hội Latinh, khi cử hành Thánh Thể bất cứ ở đâu, tư tế phải dùng bánh
không men” (số 926).
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét