AMEN
Tiếng Amen có lẽ
là một từ phổ biến trên môi người Kitô giáo. Từ Amen có nghĩa là: tất nhiên,
xác thực, chắc chắn, hay đơn giản hơn Amen có nghĩa là phải. Theo nguyên ngữ Do
thái, từ Amen hàm ý một sự vững vàng, kiên cố đảm bảo. Thưa Amen, tức là tuyên
bố điều vừa được phát biểu là đúng, là để chấp nhận một câu nói hay để kết hiệp
với lời kinh.
1. Cựu Ước
a. Amen - chứng thực ta đồng ý
với ai. “Ngôn sứ Giê-rê-mi-a nói: "A-men! Ước gì ĐỨC CHÚA làm như thế! Ước
gì Người thực hiện các điều ông vừa tuyên sấm, và đưa các đồ dùng trong Nhà ĐỨC
CHÚA cũng như tất cả những người lưu đày từ Ba-by-lon trở lại nơi này” (Gr
28,6). “Ông Bơ-na-gia-hu con ông
Giơ-hô-gia-đa thưa lại với vua và nói: "A-men, xin ĐỨC CHÚA, Thiên Chúa
của đức vua chúa thượng của hạ thần phán như vậy!” (1V 1,36).
b. Amen- bằng lòng một sứ mạng. “Ta
đã phán rằng: nếu các ngươi nghe tiếng Ta và làm theo tất cả những điều Ta
truyền dạy, thì các ngươi sẽ trở thành dân của Ta, và chính Ta, Ta sẽ là Thiên
Chúa của các ngươi, để giữ trọn lời Ta đã thề hứa với cha ông các ngươi, là ban
cho họ đất tràn trề sữa và mật như ngày hôm nay." Tôi đã đáp lời và thưa:
"A-men, lạy ĐỨC CHÚA!" (Gr 11,5).
c. Amen - lãnh trách nhiệm về một
lời thề và sau đó chịu Thiên Chúa đoán xét. “Xin cho nước đắng cay này ngấm vào nội tạng chị, khiến bụng chị sình
lên và dạ chị héo đi. Người đàn bà ấy sẽ thưa: "A-men. A-men” (Ds
5,22).
d. Amen - cam kết của cộng đoàn trong nghi
lễ lập lại giao ước. “Đáng nguyền rủa
thay người tạc tượng đúc tượng -điều ghê tởm đối với ĐỨC CHÚA, đồ vật do tay
thợ làm ra- và đặt ở nơi bí mật mà thờ! Toàn dân sẽ thưa: A-men! Đáng nguyền
rủa thay kẻ khinh dể cha mẹ! Toàn dân sẽ thưa: A-men! Đáng nguyền rủa thay kẻ
xê dịch ranh giới người đồng loại! Toàn dân sẽ thưa: A-men! Đáng nguyền rủa
thay kẻ làm cho người mù đi lạc đường! Toàn dân sẽ thưa: A-men! Đáng nguyền rủa
thay kẻ làm thiệt hại đến quyền lợi của ngoại kiều, cô nhi quả phụ! Toàn dân sẽ
thưa: A-men! Đáng nguyền rủa thay kẻ nằm với vợ của cha mình, vì nó xâm phạm
đến quyền làm chồng của cha mình! Toàn dân sẽ thưa: A-men! Đáng nguyền rủa thay
kẻ nằm với con vật nào! Toàn dân sẽ thưa: A-men! Đáng nguyền rủa thay kẻ nằm
với chị em mình, con gái của cha hay mẹ mình! Toàn dân sẽ thưa: A-men! Đáng
nguyền rủa thay kẻ nằm với mẹ vợ mình! Toàn dân sẽ thưa: A-men! Đáng nguyền rủa
thay kẻ giết trộm người đồng loại! Toàn dân sẽ thưa: A-men! Đáng nguyền rủa
thay kẻ nhận quà hối lộ để giết người vô tội! Toàn dân sẽ thưa: A-men! Đáng
nguyền rủa thay kẻ không giữ trọn những lời của Luật này mà đem ra thực hành!
Toàn dân sẽ thưa: A-men!" (Đnl 27,15-26).
đ. Amen - tin tưởng, phó thác, kết hiệp với
Thiên Chúa. “Bấy giờ ông Ét-ra chúc tụng
ĐỨC CHÚA là Thiên Chúa vĩ đại, và toàn dân giơ tay lên đáp rằng: "A-men!
A-men! " Rồi họ sấp mặt sát đất mà thờ lạy ĐỨC CHÚA” (Nkm 8,6).
e. Amen - kinh nguyện chắc chắn
được chấp nhận. “Chính tay bà làm nên
những việc ấy và thực hiện những điều tốt lành cho nhà Ít-ra-en. Thiên Chúa hài
lòng về những việc của bà. Xin Thiên Chúa toàn năng ban cho bà nhiều ơn phúc,
đến muôn thuở muôn đời. Mọi người đáp: A-men" (Gđt 15,10).
f. Amen – lời tung hô. “Chúc tụng ĐỨC CHÚA là Thiên Chúa Ít-ra-en,
từ muôn thuở cho đến muôn đời! " Và toàn dân hô lớn: "A-men!
Ha-lê-lui-a!" (1Sb 16,36).
2. Tân Ước
a. Amen - lời tung hô, chúc tụng
Thiên Chúa. “Nhưng anh em hãy lớn lên
trong ân sủng và trong sự hiểu biết Đức Giê-su Ki-tô là Chúa và là Đấng Cứu Độ
chúng ta. Xin kính dâng Người vinh quang, bây giờ và cho đến muôn đời. A-men”
(2Pr 3,18). “Chúc tụng Người đến muôn
thuở muôn đời. A-men” (Rm 1,25).
b. Amen – lời tung hô mà cộng đoàn dùng để
kết hợp với vị đại diện cầu nguyện nhân danh họ đồng thời là lời thưa của cộng
đoàn đã thấu hiểu ý nghĩa lời họ vừa nghe. "Quả thế, nếu bạn chỉ chúc tụng với tấm lòng thôi, thì làm sao hạng
người ngoài cuộc có thể thưa "A-men" lúc bạn dâng lời tạ ơn, vì người
đó không biết bạn nói gì?” (1Cr 14,16).
c. Amen- lời tung hô để kết thúc nhưng
bản thánh ca của các thánh xướng lên trong phụng vụ thiên quốc thường liên kết
với từ Alleluia. “Sau đó, tôi nghe như có
tiếng hô lớn của đoàn người đông đảo ở trên trời vang lên: "Ha-lê-lui-a!
Thiên Chúa ta thờ là Đấng cứu độ, Đấng vinh hiển uy quyền! Những lời Người phán
quyết đều chân thật công minh! "Lần thứ hai họ lại hô: "Ha-lê-lui-a!
Khói lửa thiêu nó cứ bốc lên đời đời kiếp kiếp! " Bấy giờ, hai mươi bốn vị
Kỳ Mục và bốn Con Vật phủ phục xuống thờ lạy Thiên Chúa, Đấng ngự trên ngai, mà
tung hô: "A-men! Ha-lê-lui-a!" (Kh 19,1-3).
3. Tiếng Amen của Thiên Chúa và của Kitô
hữu
a. Tiếng Amen của Thiên Chúa
Lời
Amen của Thiên Chúa là chính Đức Giêsu Kitô. Vì chưng, chính nhờ Đức Giêsu, “mọi lời hứa của Thiên Chúa đều là
"có" nơi Người. Vì thế, cũng nhờ Người mà chúng ta hô lên
"A-men" để tôn vinh Thiên Chúa” (2Cr 1,20). Cho nên, Đức Giêsu
không những là Đấng nói thật, khi phán lời Thiên Chúa, mà Người còn chính là
Lời của Thiên Chúa thật, “là lời của Đấng
A-men, là Chứng Nhân trung thành và chân thật, là Khởi Nguyên của mọi loài
Thiên Chúa tạo dựng” (Kh 3,14).
b. Tiếng Amen của Kitô hữu
Chúa Giêsu Kitô
là Đấng Amen có quyền lực và thấu đáo của tình yêu của Đức Chúa Cha dành cho
chúng ta. Người đảm nhiệm và hoàn thành Amen của chúng ta với Đức Chúa Cha.
Amen là Đức Kitô, với cả hai bản tính Thiên Chúa và bản tính loài người, Đấng
Trung gian giữa Thiên Chúa và con người. Vì vậy, chúng ta nói Amen, nhưng với
Đức Kitô Amen hoàn thành và hoàn hảo dâng lên Đức Chúa Cha. Đó là lý do tại sao
chúng hô lên Amen để tôn vinh Thiên Chúa (2 Cr 1,20). Vậy, các Kitô hữu đáp lại
lời Amen, chính là kết hợp với Đức Kitô, có nghĩa rằng họ được Kitô hoá trong Ngài. Vì “Chúng ta được hiện hữu trong Đức Kitô Giêsu”
(1Cr 1,30), “được kêu gọi hiệp thông với Đức Kitô”
(1Cr 1,9), “được Chúa Cha tiền định trở nên đồng hình đồng dạng
với Con của Người, để Con của Người làm trưởng tử giữa một đoàn em đông đúc” (Rm 8,29). Và từ đây, không ai
có thể xướng lên lời ấy nếu không có ân sủng của Chúa Giêsu ở với họ. Cho nên,
lời cầu chúc kết thúc cuốn Thánh Kinh và được tiếng Amen cuối cùng niêm ấn,
“A-men, lạy Chúa Giê-su, xin ngự đến! Chúc mọi người được đầy ân sủng của Chúa
Giê-su” (Kh 22,21).
ÂN SỦNG
1. Tiếng Hy Lạp (Kháris), tiếng La tinh
(gratia), tiếng Việt là Ân sủng hay ân huệ. Ân sủng là ân huệ của Thiên Chúa, chứa đựng tất cả mọi ân huệ
khác, đó là ân huệ của Con Thiên Chúa là Chúa Giêsu Kitô (Rm 8,32).
Sách Giáo lý Hội thánh Công giáo, số
1996 giải thích: "Ân sủng là một ân
huệ, một trợ giúp nhưng không mà Thiên Chúa ban cho chúng ta để chúng ta đáp
lại tiếng gọi của Ngài: trở thành con cái Thiên Chúa (x. Ga 1,12-18), làm nghĩa
tử (x. Rm 8,14-17), tham dự vào bản tính Thiên Chúa (x. 2Pr 1,3-4) và vào sự
sống muôn đời (x. Ga 17,1-3)”. Nói cách khác, “Ân sủng là sự tham dự vào sự sống Thiên Chúa, đưa chúng ta vào sự thân
mật của sự sống Chúa Ba Ngôi: nhờ bí tích Rửa Tội, Kitô hữu tham dự vào ân sủng
của Đức Kitô, Đầu của thân thể..." (GLHTCG, số 1997).
Ân sủng của Đức Kitô là gì? Đó là “Hồng ân nhưng không, Thiên Chúa cho chúng ta
từ sự sống của Ngài, nhờ Chúa Thánh Thần tuôn đổ vào linh hồn chúng ta để chữa
trị nó khỏi tội lỗi và thánh hóa nó: đó là ơn thánh hóa hay ơn thần linh hóa, được
lãnh nhận trong bí tích Rửa Tội. Ân sủng này là nguồn mạch của công trình thánh
hóa trong chúng ta” (GLHTCG, số 1999): “Phàm
ai ở trong Đức Ki-tô đều là thọ tạo mới. Cái cũ đã qua, và cái mới đã có đây
rồi. Mọi sự ấy đều do bởi Thiên Chúa là Đấng đã nhờ Đức Ki-tô mà cho chúng ta
được hoà giải với Người” (2Cr 5,17-18).
Thế nhưng ơn gọi vào sự sống vĩnh cửu
của Ba Ngôi Thiên Chúa là một ơn siêu nhiên, tùy thuộc hoàn toàn vào sáng kiến
nhưng không của Thiên Chúa bởi vì chỉ mình Ngài có thể tự mạc khải và tự ban
tặng chính mình. Ơn gọi ấy vượt mọi khả năng của trí tuệ và ý chí con người,
cũng như của mọi thụ tạo (1Cr 2,7-9), (GLHTCG, số 1998).
Tóm lại, “Ân sủng
là sự trợ giúp của Thiên Chúa ban cho chúng ta, để chúng ta đáp lại lời kêu gọi
là trở thành nghĩa tử của Ngài. Ân sủng đưa chúng ta vào sự thân mật của sự
sống Chúa Ba Ngôi” (GLHTCG, số 2021).
2. Ân sủng được chia thành hai loại: ơn hiện sủng (gratiae actuales) và ơn thường
sủng (gratia habitualis).
Ơn hiện sủng là những ân
sủng bí tích (gratiae sacramentales), là những hồng ân riêng cho những bí tích
khác nhau. Nói cách khác, ơn hiện sủng là sự trợ giúp siêu nhiên ban tạm thời,
nghĩa là chỉ ban cho con người tùy lúc và tùy hoàn cảnh, hoặc trong tiến trình
của công cuộc thánh hóa. Chúa cũng ban hiện sủng cho con người để tiến tới ơn
thường sủng.
Ơn thường sủng là ơn Chúa
ban trong linh hồn một cách bền vững để con người sống và hành động theo lời
kêu gọi của Thiên Chúa. Ơn thường sủng là ân sủng đặc biệt (gratiae speciales) hay
còn gọi là đặc sủng (charismata). Thánh Phaolô dạy "Có nhiều đặc sủng khác nhau, nhưng chỉ có một Thần Khí. Có nhiều việc
phục vụ khác nhau, nhưng chỉ có một Chúa. Có nhiều hoạt động khác nhau, nhưng
vẫn chỉ có một Thiên Chúa làm mọi sự trong mọi người. Thần Khí tỏ mình ra nơi
mỗi người một cách, là vì ích chung. Người thì được Thần Khí ban cho ơn khôn ngoan để giảng dạy, người thì
được Thần Khí ban cho ơn hiểu biết
để trình bày. Kẻ thì được Thần Khí ban cho lòng
tin; kẻ thì cũng được chính Thần Khí duy nhất ấy ban cho những đặc sủng để chữa bệnh. Người thì được ơn làm phép lạ, người thì được ơn nói tiên tri; kẻ thì được ơn phân định thần khí; kẻ khác thì được
ơn nói các thứ tiếng lạ; kẻ khác nữa
lại được ơn giải thích các tiếng lạ”
(1Cr 12, 4-11). Lưu ý, “các đặc sủng đều
quy hướng về ơn thánh hóa và có mục tiêu là công ích của Hội Thánh. Các đặc
sủng đều phục đức mến là nhân đức xây dựng Hội Thánh” (GLHTCG, số 2003). Còn, "Ơn thánh hóa
là một hồng ân thường xuyên, một trạng thái bền vững và siêu nhiên, kiện toàn
chính linh hồn để nó có khả năng sống với Thiên Chúa và hành động vì tình yêu
của Ngài” (GLHTCG 2000).
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét