Ðan Sĩ
(= Moine)
Tiếng Hy Lạp monochos có nghĩa là duy nhất, đơn
độc. Các đan sĩ sống thành cộng đoàn trong các đan viện không phải là những
người cô độc, đúng hơn, đây là những người hiến mình để tìm kiếm một sự duy
nhất cần thiết. Theo sắc lệnh "Canh tân và thích nghi đời tu" của
Công đồng Vaticanô II: "Nhiệm vụ chính yếu của các đan sĩ là phục vụ Thiên
Chúa uy quyền trong nội vi đan viện, với sự khiêm tốn, nhưng cao quí, hoặc hoàn
toàn hiến thân phụng thờ Thiên Chúa trọn đời sống ẩn dật, hoặc phụ trách cách
hợp pháp một vài công việc tông đồ hay bác ái Kitô giáo" (s. 9). Theo quy
định thánh Biển Ðức, nếu suốt cuộc đời đan sĩ nơi "Trường phục vụ Thiên
Chúa" diễn ra trong vâng phục và khiêm tốn, thì việc phục vụ đó là công
trình Thiên Chúa, Opus Dei, ở mức độ tuyệt hảo nhất, và phải được đặt lên trên
tất cả (chương 43). Việc cử hành phụng vụ, xét trong toàn bộ, nhất là Các Giờ
Kinh Phụng Vụ, không phải là đặc ân của các đan sĩ, nhưng đời sống cộng đoàn
của họ, có trọng tâm là kinh Thần Vụ, sẽ làm cho kinh thần vụ của họ có tính
chất gương mẫu.
Ðan Viện
(= Abbaye)
Tiếng La tinh abbatia có nghĩa là một tu viện do
một đan viện phụ hay một đan viện mẫu quản trị. Ðể thiết lập một đan viện, cần
phải hội đủ số đan sĩ. Trước kia, đó là một tu viện có một tu viện trưởng điều
hành.
Ðan Viện Phụ / Ðan Viện Mẫu
(= Abbé / Abbesse)
Tiếng Hipri nghĩa là người cha; còn trong tiếng Aram nghĩa
là bố, ba (tiếng trẻ con gọi). Như thế, đan viện phụ là người cha của một cộng
đoàn đan tu. Bình thường, đan viện phụ được bầu giữ chức vụ này suốt đời, vì
trong một gia đình, người ta không thay đổi người cha theo hạn kỳ. Ðan viện phụ
được quyền ban phép lành, một trong những phụ tích cao quý của Hội thánh (xc.
Phép lành, Bí tích). Vào những dịp đại lễ, đan viện phụ có thể sử dụng những
phẩm hiệu dành riêng cho giám mục (gậy, mũ), là biểu tượng quyền tài phân như
một người cha đối với đan viện. Mặc dù không là giám mục, nhưng trách vụ của
đan viện phụ cũng tương tự như sứ mệnh chủ chăn của đấng kế vị các tông đồ.
Vì sự nghèo túng của đan viện, vào thời Trung Cổ
có tập tục ban tặng tước hiệu viện phụ cho các giám chức địa phận, hoặc ngay cả
cho người giáo dân để bảo trợ cho đan viện. Các viện phụ giám hộ này không phải
là đan sĩ, và vẫn dành cho vị bề trên quyền cai trị đan viện.
Ðáp Ca
(Répons)
Tiếng Latinh reponsum nghĩa là đáp trả,
responsorium nghĩa là hát đối đáp. Ðáp ca là một bài hát phụng vụ hát luân
phiên giữa một người hoặc một nhóm lĩnh xướng (xc. Ca viên tu viện), với ca
đoàn. Ðáp ca dài gồm một bài dài có cung điệu phong phú; đó chính là một bài
hát suy niệm sau các bài đọc, hoặc trong phụng vụ các giờ kinh hoặc trong thánh
lễ (xc. Ca tiến cấp). Ðáp ca ngắn là một bài hát suy niệm ngắn sau một bài đọc
ngắn; thành phần của kinh Sáng, kinh Chiều và kinh Tối. Bản văn đáp ca chủ yếu
rút từ Thánh Kinh, nhất là Thánh Vịnh (xc. Câu xướng đáp, Cau tung hô, Cộng
đoàn phụng vụ).
Ðặt Tay
(= Imposition)
Trong tất cả các tôn giáo, cử chỉ đặt tay, nhất là
tay phải, là thành phần của các nghi thức có ý nghĩa nhất. Cử chỉ này chuyển
ban phép lành của Thiên Chúa (St 48,14-19) và, cách này hay cách khác, diễn tả
việc Thiên Chúa giải phóng một vật và thông ban Thánh Thần của Người (Tv
138,5). Trong các bí tích, đặt tay tiếp nối cử chỉ của Ðức Chúa và các Tông Ðồ.
Trong nghi lễ phong chức phó tế, linh mục và giám
mục, cử chỉ đặt tay trong thinh lặng trước lời nguyện phong chức, làm thành
chất liệu của bí tích Truyền Chức; nghĩa là một dấu chỉ cốt yếu khả giác. Cử
chỉ này có nghĩa là chuyển thông Thánh Thần và các quyền Người ban cho để làm
việc tông đồ (Cv 6,6; 13,2-3; 1Tm 4,14; 2Tm 1,6). Ðức Giám Mục đặt tay trên đầu
mỗi tiến chức để phong chức linh mục. Tất cả các linh mục hiện diện cũng đặt
tay như đức giám mục. Trước nghi thức cốt yếu trong bí tích Thêm Sức, Ðức Giám
Mục và các linh mục sẽ cùng xức dầu với người đặt tay trên toàn thể những người
sắp lãnh nhận bí tích (Cv 8,17; 19,6). Trong nghi thức chuẩn bị Thánh Tẩy, việc
đặt tay gắn liền với nghi thức trừ tà. Nghi thức này có thể thay thế việc xức
dầu dự tòng. Trong bí tích Sám Hối, lúc tha tội, linh mục giơ tay về phía hối
nhân: cử chỉ này diễn tả quyền tháo cởi và hòa giải. Trong lúc cử hành bí tích
Xức Dầu bệnh nhân, việc đặt tay tong thinh lặng đi liền trước việc xức dầu (Mt
8,3.15; Mc 5,23; 16,18). Trong lễ truyền dầu khi thánh hiến dầu thánh, các linh
mục hiện diện cùng với giám mục giơ tay phải hướng về dầu lúc đọc phần cuối lời
nguyện thánh hiến.
Trong thánh lễ, chủ tế và các vị đồng tế giơ hai
tay trên lễ phẩm khi đọc kinh cầu Chúa Thánh Thần: cử chỉ này là để kêu cầu tác
động thánh hiến của Chúa Thánh Thần. Khi so sánh với những cử chỉ tương tự
trong Cựu Ước (Lv 1,4), người ta cũng thấy đó là một cách thức nói lên rằng tất
cả các tín hữu, qua trung gian vị linh mục, liên kết với việc dâng hiến này để
vươn tới Thiên Chúa cùng với hy lễ (xc. Linh thánh); Dâng lên, nghĩa thứ hai
của cử chỉ này, phải gắn liền với ban xuống là nghĩa thứ nhất (xc. Phụng vụ).
nghi lễ Xá tội trong dân Israel
qui định việc đặt tay trên con dê thục tội có nghĩa là trút tất cả tội lỗi của
dân lên nó (Lv 16,21): ý nghĩa này khác với việc tưởng nhớ hy tế Con Chiên gánh
tội trần gian (Ga 1,29). Ðể thánh hiến bánh và rượu, các vị đồng tế giơ tay
phải hướng về bánh lễ, rồi về phía chén rượu. Cuối thánh lễ, chủ tế giơ tay
trên toàn thể cộng đoàn khi đọc ba lời cầu trước phép lành trọng thể trong một
vài trường hợp. Cũng nên ghi nhận rằng: cử chỉ ban phép lành bình thường, tức
là dấu thánh giá, là một cách đặt tay.
Trong lãnh vực phụng vụ, người ta cũng nói đặt áo
trắng sau khi đổ nước, đặt áo phó tế trong lễ phong chức phó tế, đặt giây các
phép và áo lễ trong nghi thức phong chức linh mục, đặt lúp trong nghi thức
thánh hiến trinh nữ, đặt áo dài và có mũ trong nghi thức chúc lành đan sĩ,
v.v... Ðặt (xức) tro mở đầu mùa Chay. Ðặt (xướng) điệp ca trong kinh Thần Vụ,
có nghĩa là lấy cung, đặt hướng có nghĩa là rắc hương trên than trong bình
hương.
Ðấng Bản Quyền
(= Ordinaire)
Tiếng La tinh ordinarius nghĩa là theo trật tự.
Ðấng bản quyền cao nhất là đức giám mục, nguyên ủy của bí tích truyền chức
trong giáo phận của người, và là thừa tác viên chính của mọi cử hành phụng vụ.
Phần thường lễ (ordinarium missae) gồm những phần
kế tiếp nhau cố định trong cử hành thánh lễ, đối lại với lễ riêng (prorium).
Mùa Thường Niên (tempus ordinarium) gồm 34 tuần kế tiếp trong khoảng giữa chu
lỳ mùa Giáng Sinh và mùa Phục Sinh (xc. Năm Phụng Vụ).
Ðạo Thiên Binh
(= Sabaoth)
Sabaoth là số nhiều của từ Hipri Sâbâ, có nghĩa là
đạo binh. Tước hiệu Yahvé Sabaoth Thánh Kinh dành cho Thiên Chúa có nghĩa là
Thiên Chúa Các Ðạo Binh. Ðó là các đạo binh thiên quốc, tức là các thiên thần
và các tinh tú. Tước hiệu ấy cũng được phụng vụ sử dụng trong kinh Thánh Thánh
Thánh, Chúa là Thiên Chúa các đạo binh.
Ðen (màu)
(Noir)
Màu đen là màu tang chế ở Tây Phương, có thể được
dùng cho các phẩm phục thánh lễ và các kinh nguyện mai táng. Thường mầu tím
được sử dụng nhiều hơn.
Ðèn
(= Lampe)
Khi lưu trữ bánh thánh đã truyền phép, phải thường
xuyên đặt một cái đèn sáng bên cạnh nhà tạm. Ðó là biểu tượng sự hiện diện thực
sự và sự tôn thờ luôn tỉnh thức của các tín hữu. Ý nghĩa này được tiếp nhận một
cách rõ ràng hơn nếu đó là đèn thắp bằng dầu, cho một ngọn lửa thực. Do đó, người
ta sử dụng những cái đèn tương tự để tôn kính hài cốt hoặc ảnh tượng các thánh.
Ðèn (Thắp)
(= Lucernaire)
Trong tiếng La tinh, lucerna có nghĩa là đèn. Lên
đèn là một trong những danh từ dùng cho phụng vụ kinh Chiều, trong giờ kinh đó
người ta phải thắp đèn. Ðối với người Do Thái, ngày sabát và những ngày đại lễ
bắt đầu canh thức vào buổi tối bằng một nghi thức thắp sáng; phụng vụ công giáo
mở đầu đêm vọng phục sinh bằng nghi thức làm phép nến phục sinh.
Ðền Tội (Việc)
(= Satisfaction)
Tiếng La tinh satisfactio nghĩa là hành động sửa
lại một sự xúc phạm (satis: đủ; facere: làm). Trong bí tích Hòa Giải, việc đền
tội là một việc tượng trưng (cầu nguyện, việc lành), do linh mục đề nghị và hối
nhân chấp nhận, để biểu lộ một cách nào đó ý muốn sửa lại sự xúc phạm Thiên
Chúa do tội lỗi đã phạm.
Ðĩa Hứng
(= Plateau)
Ðĩa hứng là một cái đĩa bằng kim loại quí, thường
là hình bầu dục, dùng để hứng các mẩu vụn bánh thánh hoặc các giọt máu thánh có
thể rơi rớt khi cho rước lễ.
Người ta cũng dùng một đĩa hình bầu dục để đựng
các lọ rượu, nước và dùng như một cái chậu nhỏ khi rửa tay.
Ðĩa Thánh
(= Platène)
Ðĩa Thánh có hình tròn và lõm, dùng để đựng bánh
thánh. Ðĩa thánh làm bằng chất liệu cứng, thường là bằng kim loại quý, tương
xứng với chén thánh. Trong mức độ có thể, chỉ dùng một đĩa thánh lớn, đựng bánh
của linh mục, các thừa tác viên cũng như các tín hữu.
Ðiệp Ca
(= Antienne)
Tiếng Hy lạp antiphonos nghĩa là người đối đáp.
Lúc đầu, bài ca đối đáp được thực hiện luân phiên do hai ca đoàn đối đáp lẫn
nhau, có lúc hòa chung. Ðó là cách thức các ban hát thực hiện trong các vở kịch
Hy Lạp. Trong phụng vụ Do Thái và phụng vụ Kitô Giáo, các Thánh Vịnh là chất
liệu cho việc luân phiên xướng đáp của ca đoàn.
Dần dần, sự luân phiên giữa hai ca đoàn - vẫn còn
vết tích trong các bài ca tiếp liên mùa Chay - được thay thế bằng việc tất cả
cùng lặp lại một điệp khúc sau những câu hoặc đoạn Thánh Vịnh do một người lĩnh
xướng. Ðiệp ca không còn được thực hiện luân phiên nữa, nhưng được hát trước,
giữa hoặc sau mỗi Thánh Vịnh. Thánh Vịnh này chỉ còn là một thoại khúc đơn
giản, trong khi điệp ca rất giàu âm điệu.
Hiện nay, các điệp ca trong thánh lễ (Ca nhập lễ,
Alleluia, Ca dâng lễ, Ca hiệp lễ) chỉ giữ lại một phần tiêu biểu của Thánh
Vịnh, bình thường chỉ cần điệp khúc là đủ. Cũng cần ghi nhận rằng Thánh Vịnh
xen giữa các bài đọc sách Thánh được đọc kèm với điệp khúc. Trong kinh Thần Vụ,
các điệp ca thường được hát trước và sau mỗi thánh vịnh. Việc xướng thánh vịnh
Hiệu Triệu khởi đầu kinh Thần Vụ của một ngày được nhấn mạnh bằng việc lặp lại
nhiều lần một điệp khúc rút từ thánh vịnh. Các thức đối đáp trong khi đọc thánh
vịnh như thế còn áp dụng cho các thánh vịnh khác trong nhiều trường hợp (xc.
Ðáp Ca).
Ðỏ (Màu)
(= Rouge)
Màu phụng vụ gợi lên máu và lửa. Màu này được dùng
trong Chúa Nhật Thương Khó (hay Chúa Nhật Lễ Lá), thứ Sáu Tuần Thánh, lễ Hiện
Xuống và các lễ Kính Chúa Thánh Thần, lễ Suy Tôn Thánh Giá ngày 14 tháng 9, lễ
các Tông Ðồ và các Thánh Tác Giả Tin Mừng, và lễ các Thánh Tử Ðạo.
Ðọc Sách (Tác Viên)
(= Lecteur)
Thầy đọc sách được cắt cử qua việc chúc lành đặc
biệt và công khai, diễn ra trong thánh lễ hay trong buổi cử hành Phụng Vụ Lời
Chúa. Thầy đọc sách có nhiệm vụ đọc hay hát những đoạn Thánh Kinh trong Phụng
Vụ đã được chỉ định, và hướng dẫn cộng đoàn hiểu Lời Chúa. Việc đọc Tin Mừng
trong Thánh Lễ được dành riêng cho phó tế hay linh mục. Việc cắt cử thầy đọc
sách là thuộc quyền đức giám mục; còn đối với các tu sĩ, quyền này thuộc về bề
trên cao cấp của họ. Những ai chuẩn bị lãnh chức phó tế hay linh mục thì trước
đó phải lãnh tác vụ đọc sách cũng như tác vụ giúp lễ (xc. Giúp lễ). Nhưng người
ta có thể lãnh chức vụ này mà không nhằm đến các chức thánh. Khi thiếu thầy đọc
sách chính thức, thì một người giáo dân (kể cả nữ giới) có khả năng đọc rõ ràng
và dễ hiểu, có thể đảm trách việc đọc sách. Thực vậy, chủ tế không nên đọc hết
tất cả các bài đọc.
Ðổ Nước
(= Infusio
ng La tinh infusio nghĩa là rót, tưới, đổ nước.
Thánh tẩy có thể thực hiện bằng cách đổ nước hoặc rảy (xc. Thánh tẩy vắn tắt,
nghĩa hơi khác một chút). Cử hành Thánh Tẩy bằng cách đổ hoặc rảy nước là thông
dụng nhất, mặc dù cử hành Thánh Tẩy bằng cách dìm vẫn là ý nghĩa nhất.
Ðồng Tế
(= Concélébration)
Từ ngữ cử hành (celebratio) tự nó bao hàm việc có
số đông người cử hành, nghĩa là họp nhau để chào mừng một việc gì hay một người
nào. Như vậy tiếp đầu ngữ "con" (cùng nhau) có vẻ thừa. Vì phụng vụ
không bao giờ là hành động của một người, nhưng là hành động của cả cộng đoàn
hội nhập vào tác động của Thiên Chúa, nên mỗi cuộc cử hành đều giả thiết rằng
mỗi người tham dự đều đồng cử hành với những người khác. Mỗi tác động trong
phụng vụ đều là của toàn thể Hội Thánh, Hội Thánh tại thế cũng như Hội Thánh
trên trời, cho nên các bài kinh Tiền Tụng thường nhắc đến các sứ thần cùng đồng
thanh tung hô (socia exultatione concelebrant) trong phụng vụ thiên quốc, tức
là trong niềm hân hoan chung, các vị cùng tôn vinh Thiên Chúa. Thánh lễ là một
tác động thánh tuyệt hảo nhất trong đó mỗi thành phần Dân Chúa tham dự tích cực
theo phần vụ dành cho mình. Trong Thánh Lễ, cũng như trong các cuộc cử hành
khác, không phải mọi người cùng có cách thức cử hành như nhau. Mỗi người tùy
theo là thừa tác viên hay giáo dân, trong khi chu toàn nhiệm vụ của mình, chỉ
thực hiện và thực hiện trọn vẹn phần vụ thuộc về mình, tùy theo bản chất của sự
việc và qui luật Phụng Vụ (PV 28). Ýnghĩa tổng quát của từ ngữ đồng tế tương
đương với từ ngữ Hy Lạp sulleitourgein, có nghĩa là cử hành phụng vụ với.
Chỉ vào khoảng thế kỷ XII hay XIII, từ ngữ đồng tế
mới có ý nghĩa chuyên môn là nhiều linh mục cùng cử hành một thánh lễ. Ngược
lại, việc đồng tế thì đã có từ rất xa xưa. Trong thời Thượng Cổ Kitô Giáo, việc
đồng tế dối với các linh mục là cách thức có ý nghĩa nhất để cử hành Lễ Tế Tạ
Ơn. Nếu công tác mục vụ không đòi hỏi các linh mục phải cử hành mầu nhiệm Vượt
Qua duy nhất ở những nơi khác nhau, thì điều rất tự nhiên là các vị nên đồng tế
lễ Tạ Ơn quanh vị giám mục. Thói quen đồng tế chưa hề bị bỏ quên, cả ở bên Tây
cũng như bên Ðông (PV 57), nhưng vì nhu cầu mục vụ, và não trạng tư riêng hóa
phụng vụ, đàng khác vào thời Trung Cổ, thánh lễ mất ý nghĩa trọn vẹn của nó,
nên việc đồng tế bị giản lược thành cử hành riêng tư. May thay Công Ðồng
Vaticanô II đã phục hồi việc đồng tế.
Bởi vì việc đồng tế lễ Tạ Ơn diễn tả rõ nét hơn
tính duy nhất của Hy Tế Thánh Thể, và của chức linh mục (xc. Bẻ Bánh), huấn
quyền không ngừng khuyến khích việc đồng tế, miễn là không gây phương hại cho
nhu cầu dâng lễ của giáo dân. Kiểu mẫu tiêu biểu nhất cho việc cử hành Thánh Lễ
- như được mô tả trong các sách lễ Rôma cổ xưa nhất là việc cử hành có qui tụ
đông đảo giáo dân xung quanh giám mục và các linh mục đồng tế với người. Trong
cuộc cử hành duy nhất này, mỗi người theo cương vị của mình, thể hiện ở mức độ
cao nhất ấn tích đã nhận qua bí tích Thánh Tẩy và Thêm Sức (đối với giáo dân),
hoặc ấn tích Truyền Chức (đối với giám mục, linh mục và phó tế).
Nếu phụng vụ đặt nền tảng trên dấu chỉ và trên mức
độ biểu hiệu dấu chỉ đó, thì việc đồng tế phải chiếm chỗ ưu tiên, vì tính cách
trọn vẹn của việc cử hành được thực hiện cụ thể trong việc đồng tế, mỗi người
thi hành theo cương vị của mình. Dĩ nhiên mỗi linh mục vẫn còn quyền cử hành
thánh lễ một mình, với điều kiện phải tránh cử hành nhiều thánh lễ trong cùng
một nơi nào cùng một giờ (PV 57). Ngược lại nếu vì nhu cầu của giáo dân mà các
linh mục đã cử hành lễ riêng trong cùng ngày hôm đó, hoặc đối với các linh mục
dòng, thì vẫn được đồng tế trong thánh lễ cộng đoàn.
Ðỡ Ðầu (Cha, Mẹ)
(= Parrain)
Tiếng La tinh patrinus có nghĩa là người thi hành
bổn phận làm cha. Cha đỡ đầu hoặc mẹ đỡ đầu là những người gần gũi với người
sắp được Thánh Tẩy hoặc Thêm Sức, những người này có vai trò chăm sóc những
người con tinh thần để giúp phát triển hợp với đời sống Kitô hữu.
Chính trong bí tích Thánh Tẩy người lớn, người cha
(hoặc mẹ) đỡ đầu thi hành vai trò này một cách đầy đủ: người cha (hoặc mẹ) ấy
do người dự tòng chọn, được vị linh mục và cộng đoàn chấp nhận. Vào ngày tuyển
chọn, tức là lúc người ta quyết định cho người dự tòng được lãnh nhận bí tích
Thánh Tẩy, người cha (hoặc mẹ) đỡ đầu lãnh nhận trách nhiệm theo những nghi
thức đã được soạn. Sau cùng khi đã lãnh nhận bí tích Rửa Tội, người đỡ đầu vẫn
còn là nơi nương tựa thân thiết cho người con của mình.
Ðức Mẹ Hồn Xác Lên Trời / Mông Triệu
(= Assomption)
Tiếng La tinh assumptio, do động từ ad-sumere,
nghĩa là lấy cho mình, kéo về mình. Lễ trọng Ðức Mẹ Hồn Xác Lên Trời là lễ mừng
việc Ðức Mẹ được Thiên Chúa tôn vinh. Thánh kinh chính lục không nói đến mầu
nhiệm này, nhưng lòng tin của Hội Thánh đã làm chứng điều đó rất sớm: ngay từ cuối
thế kỷ V, người ta thấy những ám chỉ mầu nhiệm này qua lễ Ðức Mẹ Ngủ hoặc Ðức
Mẹ Băng. Ngày 1 tháng 11 năm 1950, Ðức Giáo Hoàng Piô XII đã long trọng xác
định tín điều Ðức Mẹ Hồn Xác Lên Trời bằng những lời như sau: "Ðức Maria
Vô Nhiễm, Ðức Mẹ Thiên Chúa, Trọn Ðời Ðồng Trinh, khi kết thúc cuộc đời dương
thế, đã được đưa cả hồn lẫn xác vào trong vinh quang thiên quốc".
Mầu nhiệm hồn xác lên trời là đặc ân Ðức Maria
được thừa hưởng, tương ứng với đặc ân thụ thai vô nhiễm nguyên tội. Nếu Ðức
Maria hoàn toàn tinh tuyền, được trở thành Thánh Mẫu Thiên Chúa, được liên kết
với công trình cứu độ do Con yêu dấu của Người thực hiện, thì quả Ðức Mẹ đáng
được Thiên Chúa cất nhắc vào trong vinh quang của Ðức Giêsu Phục Sinh và Thăng
Thiên. Sau việc thăng thiên của Chúa, việc Ðức Maria được đưa về trời là một
bảo đảm việc chúng ta cũng được mời gọi tham dự vào vinh quang, bởi lẽ bên cạnh
nhân tính của Ðức Kitô, còn có một con người đã được tiến vào sự sống của Thiên
Chúa Ba Ngôi và không ngừng, cùng với Ðức Giêsu, chuyển cầu cho chúng ta để
chúng ta cũng được đi tới nơi hiện Người đang hưởng vinh quang.
Ðức Thánh Cha
(= Pape)
Tiếng La tinh papa có nghĩa là cha nuôi, người
điều hành, người cha. Ðây là tước hiệu danh dự ban đầu dành cho các giám mục,
rồi sau được dành cho giám mục Rôma. Ðức Thánh Cha, với tư cách là người kế vị
thánh Phêrô, là đại diện Chúa Kitô và là thủ lãnh hữu hình của Hội Thánh. Với
danh nghĩa này, Ðức Thánh Cha, hoặc một mình, hoặc với công đồng chung, có
quyền quyết định những thích nghi phụng vụ phù hợp, liên quan đến thánh lễ, các
bí tích, các phụ tích, và các Giờ kinh Phụng Vụ: những thích nghi này không ảnh
hưởng đến điều Chúa đã thiết lập trong phụng vụ.
Công Ðồng Vaticanô II diễn tả vấn đề này như sau:
"Việc điều hành phụng vụ thánh lễ thuộc thẩm quyền duy nhất của Hội Thánh:
nghĩa là thuộc quyền Tông Tòa, và chiếu theo qui tắc luật pháp, cũng thuộc
quyền giám mục. Chiếu theo quyền hạn do luật ban, việc điều hành phụng vụ trong
các giới hạn đã định, cũng tùy thuộc các Hội Ðồng Giám Mục, được thiết định hợp
pháp, có thẩm quyền trong từng địa phương. Vì vậy, tuyệt đối không một ai khác,
dầu là linh mục, được tự quyền thêm bớt hay thay đổi bất cứ điều gì trong phụng
vụ" (PV 22; xc. Nghi thức Thánh Lễ, Rôma).
Ðứng (Tư Thế)
(= Debout)
Ðứng là tư thế chỉ riêng con người mới có (homo
erectus); đó là dấu chứng tỏ con người là một thụ tạo cao quí trong toàn thể
công trình sáng tạo: con người có cái nhìn bao trùm trái đất và có thể hướng
lên trời. Người ta đứng khi cầu nguyện: "Hai người lên Ðền Thờ cầu nguyện:
một người Pharisêu và một người thu thuế. Người Pharisêu đứng và cầu nguyện
rằng: "Lạy Thiên Chúa...". Còn người thu thuế đứng đàng xa, không dám
ngước mắt lên trời" (Lc 18,10.11.13). Cả hai người đều đứng, nhưng đang
khi người Pharisêu có thái độ tự mãn, thì người thứ hai lại tỏ ra thái độ khiêm
tốn ở chỗ người ấy không dám ngước mắt lên trời: người ấy tự nhận mình bất xứng
vì tội lỗi của mình không đáng đối diện với Thiên Chúa. Như vậy, ngay cả khi
đứng, con người vẫn biết mình không xứng đáng đối với Thiên Chúa. Nhưng con
người cũng biết rằng mình được sáng tạo để ngắm nhìn Thiên Chúa; bởi vì tư thế
đứng muốn cho thấy việc hướng tâm hồn lên, được diễn tả bằng thái độ ngắm nhìn
và giơ tay lên. Tư thế của người cầu nguyện lại chẳng phải là tư thế do truyền
thống Kitô giáo thời xa xưa đã truyền lại sao? Vị linh mục lặp lại tư thế đó
trong những giây phút trọng đại nhất của kinh nghuyện phụng vụ. Như vậy, đứng
là tư thế chính yếu trong các cung cách phụng vụ: nó cho thấy con người sẵn
sàng gặp gỡ Thiên Chúa của mình, cho thấy thái độ chăm chú một cách khiêm tốn,
thái độ ao ước được liên kết với Thiên Chúa. Trong thánh lễ, cộng đoàn đứng khi
chủ tế đọc ba lời nguyện, kinh Tạ Ơn, khi công bố Tin Mừng, khi đọc kinh Tin
Kính và Lời Nguyện giáo dân trong các Giờ Kinh Phụng Vụ, mọi người đứng khi mở
đầu và kết thúc giờ kinh.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét