VIỆC ĐẠO ĐỨC
(= Exercices)
Từ exercitium tiếng La tinh xuất phát bởi động từ
Exercere nghĩa là không để cho ngơi nghỉ, động từ này có lẽ ghép bởi Ex: ngoài,
và Arcere: gồm chứa, nhốt trong một đô thị (Arx). Như vậy, Exercitium là làm
cho sinh lực hoạt động. Người ta dùng từ này để gọi các việc đạo đức, tức là
những cách thực hành không phải là hành vi phụng vụ của cộng đoàn Kitô hữu (xc.
Á Phụng Vụ).
VINH DANH (Kinh)
(= Gloria)
Vinh tụng ca trong tiếng Hy Lạp, doxologia được
dịch sang tiếng La tinh, bắt đầu bằng chữ Gloria (Vinh danh). Nguyên nó là một
bài thánh thi buổi sáng. Kinh này là tổng hợp nhiều bản văn Kinh Thánh, đặc
biệt từ lời ca ngợi do các thiên thần hát lên trong đêm Chúa Giáng Sinh (Lc
2,13-14). Vì vậy, nó có tên gọi là thánh ca thiên thần (xc. Ga 1,29; Tv 109,1;
Cv 2,34-36). Bài ca này xuất hiện sớm nhất cũng là vào thế kỷ thứ IV, nhưng chỉ
được đưa vào thánh lễ Rôma vào đầu thế kỷ thứ VI, sau đó trong tất cả các Chúa
Nhật và các ngày lễ kính thánh tử đạo. Sau cùng, được dành cho lễ các thánh
giáo hoàng, rồi đến lễ các thánh giám mục.
Ngày nay, người ta đọc đối đáp hay hát kinh Vinh
Danh trong mọi Chúa Nhật, trừ Mùa Vọng và Mùa Chay. Tất cả lễ trọng và lễ kính
đều hát Kinh Vinh Danh.
Một Kinh Vinh Danh khác ca tụng Chúa Ba Ngôi cũng
bắt đầu bằng chữ gloria, thì ngắn gọn hơn: Vinh danh Chúa Cha và Chúa Con cùng
vinh danh Thánh Thần Thiên Chúa. Trong các giờ kinh phụng vụ và đôi khi trong
thánh lễ, câu vinh danh này là câu kết thông thường cuối một thánh vịnh hoặc
một phần thánh vịnh, cũng như của phần lớn những bài thánh ca. Trong phụng vụ,
cộng đoàn hiệp thông với và quanh Chúa Cha, nhờ Chúa Con và trong Chúa Thánh
Thần. Cũng như Chúa Con và nhờ Thánh Thần của các nghĩa tử, cộng đoàn tôn vinh
Thiên Chúa, khi lặp lại: Vinh Danh.
VINH QUANG
(= Gloire)
Doxa trong tiếng Hy Lạp là ý kiến về một người nào
đó (dokéin nghĩa là đánh giá, thẩm định), là sự thẩm định về một người có danh
tiếng. Trong tiếng Hy Lạp, vinh quanh được kể như ánh sáng, vẻ rạng rỡ. Trước
hết, vinh quang hàm chứa một sự chiếu tỏa ra điều danh tiếng khởi từ nguồn của
nó, và khi trở về, lại hàm chứa sự phản ánh vinh quang. Ðiểm phát phải chiếu
tỏa và điểm phản chiếu phải tái tạo một thứ ánh sáng không phải là ảo ảnh.
Duy chỉ Cha của ánh sáng (Gc 1,17) là nguồn mạch
hoàn hảo của Vinh Quang (chữ viết hoa muốn nói đó chính là sự sống của Thiên
Chúa Ba Ngôi); người chiếu tỏa toàn thể vinh quang của Người nơi Chúa Con, sự
rực rỡ vinh quang của Người, ấn dấu của bản thể Người, chính Ngôi Lời tôn vinh
Cha trong tất cả sự thật. Thần Khí vinh hiển (1Pr 4,14) là trung gian sự phát
tỏa và phản hồi của Vinh Quang trong đời sống Ba Ngôi. Nhờ mầu nhiệm nhập thể,
chúng ta đã nhìn thấy Vinh Quang nầy, Vinh Quang đến từ Chúa Cha, làm vinh hiển
Chúa Con (Ga 1,14), và rạng ngời trên dung mạo Chúa Kitô (2Cr 4,6). Nhờ Người,
tất cả chúng ta, mặt không che màn, chúng ta phản chiếu vinh quang của Chúa như
một tấm gương; như vậy, chúng ta được biến đổi nên giống cũng một hình ảnh đó,
ngày càng trở nên rực rỡ hơn, như do bởi tác động của Chúa là Thần Khí"
(2Cr 3,18). Sự trao đổi Vinh Quang này ngay trong Ba Ngôi đã tạo nên cơ cấu
phụng vụ: trước khi tôn vinh, phải đón nhận Vinh Quang; Vinh Quang đến với chúng
ta từ Chúa Cha, nhờ đó Chúa Con và trong Chúa Thánh Thần, và tùy mức độ chiếm
hữu Thánh Thần của Chúa Con, chúng ta có thể trả lại Vinh Quang cho Chúa Cha.
Khi cầu xin trong lời nguyện tư tế: Lạy Cha, xin Cha tôn vinh Con Cha để Con
Cha tôn vinh Cha (Ga 17,1), Chúa Giêsu đã xác định tất cả hữu thể và cuộc sống
làm Con của Người, như cuộc hiến mình để thông ban Vinh Quang của Chúa Cha như
Người không ngừng đón nhận và phản chiếu (7,19-22). Bí tích Thánh Thể đặt chúng
ta vào trung tâm của Vinh Quang này, cũng như tất cả mọi cử hành phụng vụ có
Thánh Thể là trung tâm, trong khi chờ ngày dẫn đưa chúng ta tới phụng vụ trên
trời, nơi chúng ta hy vọng sẽ được tháp nhập hoàn toàn vào việc ngợi khen Vinh
Quang (xc. Ep 1,6.12.14). Ðối với người Do Thái, vinh quang không cất đi sự
rạng rỡ, nhưng cất đi sức nặng. Cũng chính ở đó, độ dày hay sức nặng của hữu
thể thuộc về một mình Thiên Chúa, đến nỗi những sự tỏ hiện của Thiên Chúa, theo
nghĩa đen, là một sự đè bẹp. Mặc khải dần dần cho thấy độ dày của sự sống Thiên
Chúa được kết thành bởi sức nặng tình yêu; Tân Ước mặc khải rằng nơi Thiên Chúa
có Ba Ngôi để trao hiến và đón nhận tình yêu, và sức ép của tình yêu Ba Ngôi
không nhằm đè bẹp nhưng là để thắt chặt. Trong phụng vụ, tất cả những bất ổn
hoặc hời hợt phải biến đi, các tín hữu được đặt ở trung tâm trọng lực của sự
sống Ba Ngôi, Ðấng là Tình Yêu được thông ban và tái tạo trong Thánh Linh (xc.
Biến hình; Ba Ngôi; Ca tụng; Vinh tụng ca).
VINH TỤNG CA
(= Doxologie)
Theo tiếng Hy Lạp, doxa có nghĩa là vinh quang, và
logos nghĩa là lời. Như vậy, doxologia là lời về vinh quang, tức là một công
thức cử hành vinh quang Thiên Chúa. Những công thức loại này có nhiều trong
Kinh Thánh. Trong phụng vụ, các vinh tụng ca chính là:
- "Chính nhờ Ðức Kitô, cùng với Ðức Kitô và
trong Ðức Kitô..." kết thúc kinh Tạ ơn của Thánh lễ,
- "Vì Chúa là vua uy quyền và vinh hiển muôn
đời" sau kinh Khấn xin của Kinh Lạy Cha,
- "Vinh danh Chúa Cha..." kết thúc các
thánh vịnh trong các Giờ Kinh Phụng Vụ,
- Ðoạn cuối cùng trong các thánh thi.
Ngoài ra, người ta cũng gọi kinh Vinh Danh trong
Thánh Lễ và Kinh Te Deum là những vinh tụng ca (xc. Ca tụng).
VÔ NHIỄM NGUYÊN TỘI
(= Immaculation)
Lễ trọng vào ngày 8 tháng 12, kính Ðức Mẹ Maria
thụ thai mà không vương tội, nhờ hồng ân độc nhất, tức là ân sủng phát xuất từ
cuộc tử nạn của Chúa Con trên thập giá. Ðức Maria được hoài thai trong cung
lòng bà thánh Anna, mà không vướng mắc tội nguyên tổ. Thực vậy, việc Con Thiên
Chúa chuẩn bị cho mình một người mẹ xứng đáng thật hợp lý. Ðược ơn vô nhiễm
nguyên tội, Ðức Mẹ cũng được tràn đầy ơn sủng (Lc 1,18) phù hợp với thiên chức
làm Thiên Chúa Thánh Mẫu. Tuy nhiên, không như Chúa Con, Ðấng vừa là Thiên Chúa
vừa là người, Ðấng không hề phạm tội, Ðức Maria không phải là không thể mắc
tội: Mẹ có thể phạm tội, nhưng Mẹ đã hoàn toàn tuân theo ân sủng của Thiên Chúa
không ngừng đổ tràn nơi mình. Trong chương trình của Thiên Chúa, chính vì con
người chúng ta và vì ơn cứu độ chúng ta mà Ðức Maria được ơn Vô Nhiễm Nguyên
Tội, theo như tín điều được Ðức Giáo Hoàng Piô IX công bố năm 1854 và như chính
lời Mẹ nói với chị Bernadette tại Lộ Ðức năm 1858. Ðược tuyển chọn riêng để trở
thành Ðức Mẹ Thiên Chúa, thì chính Mẹ, do sự trung thành hoàn toàn với Thánh Ý
Thiên Chúa, thi hành một chức năng trung gian với tư cách làm mẹ, để nối dài sự
trung gian của Chúa Con, vì lợi ích của tất cả mọi người. Tất cả những ai trung
tín và gắn bó với Chúa Con, sẽ đến với Mẹ, trong vinh quang Thiên Chúa, cùng
với Mẹ, trở thành Hiền Thê của Ðức Kitô, xinh đẹp lộng lẫy, không tỳ ố, không
vết nhăn, hoặc bất cứ một khuyết điểm nào, nhưng thánh thiện và tinh tuyền (Ep
5,27).
ƯƠNG CUNG THÁNH ĐƯỜNG
(= Basilique)
Trong tiếng Hy Lạp, basilikè có nghĩa là (cổng)
hoàng cung. Ðối với dân Rôma, basilica là một kiến trúc dân sự, chia thành
nhiều dãy song song, làm nên một thứ quảng trường (forum) có mái che, tại đây
người ta bàn bạc công việc hoặc gặp gỡ nhau. Khi được bình an dưới thời hoàng
đế Con-tăng-ti-nô, những kiến trúc đầu tiên của Kitô giáo là các đền thờ Rôma
được cải tạo, hoặc các thánh đường được xây dựng dựa theo họa đồ các đền thờ
Rôma. Ðền thờ thánh Phêrô, đền thờ Ðức Bà Cả, đền thờ thánh Phaolô ngoại thành
là những vương cung thánh đường. Nhà thờ Chúa Giáng Sinh ở Bêlem là một vương
cung thánh đường rất cổ xưa.
Trong ngôn ngữ thông thường, vương cung thánh
đường là tước hiệu do đức giáo hoàng đặt cho một số đền thờ, đặc biệt tại các
nơi hành hương (Lộ Ðức, Lisieux, Montmatre, v.v...)
VƯỢT QUA (Lễ)
(= Pâque)
Cách gọi Chúa Nhật mừng trọng thể Chúa Phúc Sinh.
Không rõ từ nguyên thế nào. Thường người ta ghép nó với Pâsah trong tiếng Hípri
có nghĩa là nhảy, đi qua, miễn xá (xc. Xh 12,11.23.27): Ðức Chúa miễn xá không
sát hại các con đầu lòng của người Israel , nhờ máu của con chiên Vượt
Qua. Thực tế, có lẽ phải đưa từ vượt qua trở về với một từ gốc Sêmít cổ:
pashahu, có nghĩa là làm nguôi.
Nghi thức giết chiên Vượt Qua nguyên thủy là một
hy tế của các người chăn chiên du mục, nhằm xin cho bầy súc vật sinh sôi nẩy nở
vào mùa xuân. Ngược lại, việc dâng tiến lúa mì đầu vụ lại là nghi lễ của các
nông gia đã sống nếp sống định cư. Những nghi lễ này, khi liên kết với việc
giải phóng khỏi ách nô lệ Ai Cập, đã trở thành lễ vượt qua của người Hípri,
tưởng niệm việc Ðức Chúa ra tay hành động để cứu thoát Dân Người.
Bằng toàn thể Mầu Nhiệm Vượt Qua - Thương Khó, Tử
Nạn, Phục Sinh - Ðức Kitô, Con Chiên đích thực (Ga 1,29.36; 18,28; Lc 22,7-16)
và Bánh hằng sống (Ga 6,35) đã hòa giải con người tội lỗi với Chúa Cha và niêm
ấn Giao Ước. Như vậy, lễ Vượt Qua do Ðức Giêsu thiết lập đón nhận và kiện toàn
vừa việc cử hành sự đổi mới của mùa xuân - một thứ phục sinh trong thiên nhiên
cây cỏ và sinh vật, được nhiều tôn giáo coi là linh thánh, vừa việc cử hành
tưởng niệm việc giải phóng có tính cách lịch sử Ðức Chúa đã thực hiện để cứu
thoát Dân Người.
Lễ Vượt Qua, theo nghĩa chặt, là lễ trọng bậc
nhất, mừng Chúa Phục Sinh, là trọng tâm của toàn thể năm phụng vụ; lễ ấy bắt
đầu với đêm canh thức Vượt Qua, chiều thứ Bảy Tuần Thánh, và kéo dài hết ngày
Chúa Nhật. Năm mươi ngày trong mùa Phục Sinh chỉ là một cách mở rộng "Ngày
Chúa đã làm ra" (Tv 117,23).
Người Do Thái giết chiên Vượt Qua và ăn mừng lễ
Vượt Qua vào chiều ngày 14 tháng Ni-san, ngày trăng đầy vào mùa xuân. Chúa
Kitô, khi chịu chết trên thánh giá vào ngày thứ Sáu 14 tháng Ni-san và phục
sinh "Ngày thứ nhất trong tuần" (Ga 20,1), nghĩa là ngày áp ngày
sabát. Ðối với người Kitô hữu, có ba cách giải quyết để định ngày mừng lễ Phục
Sinh: hoặc xác định ngày đó vào ngày Chúa Nhật tiếp sau ngày trăng tròn mùa
xuân; hoặc sau cùng, như "Nhóm 14" (vào thế kỷ thứ II, ở Tiểu Á), giữ
ngày lễ đúng ngày 14 tháng Ni-san. Tại công đồng Ni-xê-a (325), ngày lễ này
được xác định vào ngày Chúa nhật sau ngày trăng tròn lúc xuân phân. Tuy nhiên,
vì những cách tính khác nhau, các Hội Thánh Ðông Phương và Tây Phương không
mừng lễ cùng một ngày. Bình thường đó là vấn đề xác định ngày lễ vào một ngày
Chúa Nhật cố định (Chúa Nhật thứ nhất hoặc thứ hai của tháng Tư) và phải ghi
nhận rằng công đồng Vaticanô II không chống đối cách tính này (xc. Phụ trương
Hiến Chế Phụng Vụ Thánh). Nhưng anh em Chính Thống chống đối mạnh mẽ.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét